MỘT BÀI CA DAO XỨ HUẾ - DƯỚI GÓC NHÌN CỦA MỘT NGƯỜI NGHIÊN CỨU SỬ !

Cầu Chấp Lễ trên quốc lộ 1A thuộc khu vực thị trấn Vĩnh Linh - nơi xưa kia là truông Nhà Hồ



                   "Thương em anh cũng muốn vô
              sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang
              Phá Tam Giang ngày rày đã lặng
              Truông nhà Hồ nội tán dẹp yên.
 


Đây là bài ca dao khá nổi tiếng được lưu truyền trong dân gian tại khu vực Thuận Hóa xưa, nhân dân vùng này cho rằng bài ca dao này liên quan đến một câu chuyện tình trắc trở giữa anh hàn sĩ xứ Nghệ với cô lái đò trên sông Ô Lâu. Tương truyền rằng, ngày trước có một anh hàn sĩ xứ Nghệ vào kinh thi hội đã đem lòng thương yêu cô lái đò xinh đẹp ở bến cây đa trên sông Ô Lâu. Sau khi thi đậu trở về, hai người hẹn ước với nhau sẽ kết nghĩa trăm năm.
Nhưng khi về đến Nghệ An, thì chàng không thực hiện được điều ước hẹn của mình vì cha mẹ quyết không cho chàng lấy vợ xa.


Bài ca dao này bắt đầu được lan truyền trong dân gian xứ Thuận Hóa (Quảng trị - Thừa Thiên ngày nay) từ đầu thời Trịnh – Nguyễn phân tranh (1623). Hai địa danh được đề cập trong câu ca dao này nay đều thuộc về hai tỉnh Quảng Trị (truông nhà Hồ) vả Thừa Thiên (phá Tam giang) đây là hai địa danh rất nổi tiếng trong thời kỳ này.

Phá Tam Giang thuộc hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Diện tích phá Tam Giang hơn 50km2, trải dài khoảng hơn 20 km từ cửa sông Ô Lâu đến cửa sông Hương thuộc địa phận 3 huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà của tỉnh Thừa Thiên - Huế. Tương truyền phá Tam Giang thường có sóng thần rất lớn, mỗi khi tàu thuyền qua đây thường bị "sóng ông, sóng bà" ở đây đánh chìm. Nhưng nguyên do chính là do cửa phá thông ra biển quá hẹp nên sóng ở đoạn cửa phá thường rất dữ dội. Sóng to đến mức làm cho thuyền bè ra vào cửa thường bị chìm và người ta cho đó là sóng thần.

Địa danh truông Nhà Hồ là một khu vực ngày nay nằm sát quốc lộ 1A giáp giới giữa xã Vĩnh Chấp (Vĩnh Linh, Quảng Trị) và xã Sen Thủy (Lệ Thủy, Quảng Bình), cách thị trấn Hồ Xá (trước là làng Hồ Xá), huyện Vĩnh Linh không xa. Theo lời kể của các bậc cao niên trong vùng thì trong vùng này có một cộng đồng rất đông cư dân vốn là một nhánh của giới quý tộc nhà Hồ (Hồ Quý Ly) sinh sống lâu đời ở đây. Nguyên là sau khi nhà Hồ bị quân Minh lật đổ (năm 1408), con cháu Hồ Quý Ly đã di dân vào đây sinh sống, nhằm tránh sự truy sát của quân Minh (hiện nay vẫn còn gia phả ghi chép sự kiện này), nên mới có cái tên là truông Nhà Hồ. Trước đây truông Nhà Hồ là một vùng rừng rú rậm rạp cây cối um tùm rộng bạt ngàn. Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh vùng này từng là sào huyệt của một nhóm thảo khấu rất nguy hiểm, ai đi qua đó cũng thường bị chúng bắt bớ, giết chóc, để cướp của hoặc đòi tiền mãi lộ... nên “truông nhà Hồ” đã trở thành mối đe dọa và ám ảnh nhiều người.
Nhóm thảo khấu này đã hoàng hành một thời gian khá dài gây nhiều khó khăn và tai ương cho cư dân trong vùng trước sự bất lực của quan chức địa phương.

Ngày xưa (tức đầu thời Chúa Nguyễn), từ phía Bắc muốn đi vào khu vực thành Hóa Châu (nay thuộc huyện Quảng Điền) thì chỉ có đường bộ và đường thủy. Đường bộ thì phải qua truông nhà Hồ và đường thủy thì phải vào phá Tam Giang. Nhưng cả truông nhà Hồ và cả phá Tam Giang đều trở thành những mối đe dọa và uy hiếp đến tính mạng, tài sản của những ai muốn vào vùng này. Trong suốt một thời gian dài, truông nhà Hồ không chỉ là mối đe dọa đối với dân thường mà còn là mối đe dọa cho cả nhà nước. Hàng hóa, lương thực của nhà nước chở qua truông cũng bị cướp. Nếu tránh đường bộ qua truông nhà Hồ mà đi đường thủy vào phá Tam Giang thì lại bị sóng nhận chìm. Thời đó, người ta “sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang” là vì vậy.

Năm 1722, Chúa Nguyễn Phúc Chu đã sai quan Nội Tán Nguyễn Khoa Đăng đem quân đi tiễu trừ đám thổ phỉ này nhằm làm yên lòng dân. Và tim cách khơi thông luông lạch ở cửa thông ra biển của phá Tam giang .

Nguyễn Khoa Đăng là người thông minh nổi tiếng. Ông là người có công rất lớn trong việc dẹp yên bọn cướp ở truông nhà Hồ và trị được sóng thần ở phá Tam Giang.
Sau khi cho người nghiên cứu cách hoạt động của bọn cướp ở truông Nhà Hồ ông đã nghĩ ra cách để trừng trị bọn chúng. Ông bố trí một đoàn xe chở lúa gạo và hàng hóa qua truông. Ông bố trí một người lính được ngụy trang và bí mật ngồi trong thùng xe. Đáy thùng xe có đục thủng một lỗ nhưng tạm thời được nút kín. Theo kế hoạch định trước khi xe bị cướp thì người lính ngồi trên xe bắt đầu kéo nút ra để lúa rải ra dọc đường và cứ thế kéo về tận sào huyệt của chúng. Sự việc diễn ra hoàn toàn đúng như ông dự đoán. Nhờ có lúa rải dọc đường mà ông tìm ra sào huyệt bọn cướp và bố trí bắt gọn. Sau vụ đó thì truông nhà Hồ trở nên yên ổn.

Khu vực cửa phá Tam Giang ngày nay, đây cũng là nơi con sông Hương đổ ra biển .

Để trị sóng thần trên phá Tam Giang, ông cho mời những người có nhiều hiểu biết về sông nước tới khu vực cửa phá để nghiên cứu thật kỹ tình hình họ đã đi đến kết luận : Sóng dữ ở phá Tam Giang thực chất không phải là sóng thần như người ta đồn đại. Sóng dữ ở đây chủ yếu là do địa hình cửa phá quá hẹp tạo ra dòng nước chảy xiết, khi gặp gió lớn đã tạo nên những dòng nước xoáy rất nguy hiểm cho tàu thuyền khi ra vào cửa phá. Sau khi tìm ra nguyên nhân, một mặt ông sai người lặn xuống phá, đào bới mở rộng cửa phá. Nhưng mặt khác ông loan báo trong dân chúng là quan Nội tán sẽ dùng súng thần công bắn sóng thần trừ họa cho người dân. Vì nhân dân đã tin như vậy nên quan nội tán cũng dùng mê tín để trị mê tín.

Đến ngày đã định ông tổ chức một buổi lễ bắn sóng thần công khai trên phá Tam Giang có đông đảo nhân dân hai bên bờ chứng kiến. Sau khi làm lễ gọi “sóng thần” lên ông cho người mang súng hướng ra phá, ra lệnh bắn. Hàng loạt tiếng súng ầm ầm vang lên, khói bốc mù mịt. Tương truyền trên mặt phá, một luồng đỏ như máu từ từ loang ra. Nguyễn Khoa Đăng bảo với mọi người là sóng thần đã bị trúng đạn chết, từ nay không phải lo sợ nữa. Nhưng kỳ thật ông đã cho người bí mật bỏ rất nhiều gói phẩm điều vào giữa phá làm cho nước phá đỏ ngầu. Ông cho quân lính reo hò và báo cho nhân dân hai bên bờ biết là sóng thần đã bị bắn chết và máu của thần đã chảy ra đỏ cả nước phá. Từ đó sóng thần không còn, thuyền bè qua lại trên phá Tam Giang đều bình an vô sự.

Sự thật là nhờ mở rộng cửa nên sóng ở phá Tam Giang mới lặng đi. Nhưng vì có cái lễ bắn sóng thần rất oai phong do ông diễn nên nhân dân cứ tin tưởng là sóng thần đã bị quan nội tán bắn chết. Cùng với việc dẹp yên bọn cướp ở truông Nhà Hồ, quan nội tán cũng đã dẹp yên nạn “sóng thần” trên phá Tam Giang.

Như vậy bằng trí thông minh và những hiểu biết một cách khoa học, quan nội tán Nguyễn Khoa Đăng đã góp phần không nhỏ vào việc xóa tan hai biểu tượng khủng khiếp về “truông nhà Hồ” và “phá Tam Giang” từ lâu đã ám ảnh mọi người dân xứ Thuận Hóa (tức là tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên ngày nay).
Nỗi lo sợ về truông Nhà Hồ, phá Tam Giang không còn nữa, nhưng câu hát xưa vẫn còn. Nay dân gian đã ghi nhớ công lao của quan nội tán bằng cách chắp thêm hai câu ca dao nhằm ghi nhớ công ơn của quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng :

           Phá Tam Giang ngày rày đã lặng
           Truông Nhà Hồ nội tán dẹp yên.


LỜI KẾT:
Qua thực tế tìm hiểu ý nghĩa bài ca dao trên đây, chúng ta thấy rằng, để hiểu một câu ca dao cổ không đơn thuần chỉ dựa vào câu, chữ mà cần phải có những hiểu biết nhất định về lịch sử là vô cùng quan trọng. Tránh tình trạng không thuộc sử mà cứ phát biểu lung tung là vô cùng tai hại cho người đọc.

Cũng nằm trong một tình trạng chung nữa của văn hóa VN hiện nay, đó là vì đoạn dân ca này đã rất nổi tiếng của khu vực Bình Trị Thiên và cả nước. Câu ca dao cũng đã đi vào lòng người của nhiều thế hệ người Việt nên đã có rất nhiều trường hợp “tam sao thất bản” như thường thấy trong văn học dân gian VN gần đây, ví dụ:

 Thương em, anh cũng muốn vô
 Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang
 Phá Tam Giang ngày rày đã cạn
 Truông Nhà Hồ nội tán cấm nghiêm…

Hoặc:
 Nhớ em, anh cũng muốn vô
 Sợ truông nhà Hồ, ngại phá Tam Giang
     Phá Tam Giang ngày rày đã lặng
     Truông Nhà Hồ nội tán dẹp yên.

Hoặc:
 Thương anh, em cũng muốn vô
 Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang 
 Phá Tam Giang ngày rày đã cạn
 Truông Nhà Hồ nội tán dẹp yên
 Thương anh, em phải vô liền
 Trong ni cơm gạo, của tiền thiếu chi !
……………………
Nhưng như đã nói ở trên, đây chỉ là những “tam sao thất bản” không có giá trị về mặt văn hóa, không có giá trị thực tế và hoàn toàn không có giá trị về mặt lịch sử.

Một câu chuyện khác là hiện có nhiều nhà văn - nhà báo đã tìm cách chứng minh, diễn giải 04 câu ca dao này ra nhiều hướng khác nhau theo kiến thức và ý thức hệ của mình.
Người ta thậm chí cho rằng “truông nhà Hồ” là một địa danh chỉ nơi sinh sống của người Hồ - tức người Champa (Chiêm Thành) trước đây. Theo tôi thì điều này là hơi bị kỳ cục vì châu Thuận – tức là tỉnh Quảng Trị ngày nay vốn là đất của người Champa (trước năm 1302) thì nơi nào trong tỉnh này cũng là nơi sinh sống của người Chiêm Thành cả!

Người ta cũng thắc mắc khi cho rằng truông là gì ? Và tại sao trong tất cả các loại Từ điển tiếng Việt hiện đại của VN hiện nay không có từ “truông”?
Thật vậy, trong rất nhiều bộ Từ điển tiếng Việt phổ thông, cả cũ lẫn mới đang lưu hành phổ biến hiện nay như "Từ điển Tiếng Việt" của Viện Ngôn ngữ (1988), "Từ điển Việt Nam" của Thanh Nghị (1958)… đều không có chú giải từ truông. Và trong ca dao, tục ngữ… Việt Nam cũng không nhiều.
Ngoài câu ca dao cổ nói trên, ở vùng Bình Định có câu: "Chiều chiều én liệng truông Mây/ cảm thương chú Lía bị vây trong thành". Là hai trong rất ít câu ca dao cổ có sử dụng từ “truông” !

Từ truông nghĩa chính xác là gì, một địa danh, người hay vật mà tự điển tiếng Việt không có chú giải?

Theo thực tế nghiên cứu cho thấy, truông chỉ là một danh từ địa phương, chỉ một vùng đất hoang rộng bạt ngàn, nhưng bằng phẳng lại có cây cối mọc um tùm. Những vùng có địa hình địa vật như thế này tại khu vực Bình trị Thiên là rất nhiều và khá phổ biến. Nhân dân tại đây còn có một danh từ khá phổ biến hơn đó là “Rú”, để chỉ một vùng đất có địa hình địa vật tương tự nhưng nhỏ hơn. Mà chính một phần còn lại của truông nhà Hồ khi xưa nay chính là “Rú” Tư Chính tại thị trấn Hồ Xá, huyện Vĩnh Linh.
 “Truông” hay “Rú” là những vùng đất hoang tại khu vực đồng bằng, hay trung du tại khu vực Bình Trị Thiên. Nơi có địa hình bằng phẳng, có cây cối mọc rậm rạp như rừng (nhưng không có cây lớn) đây là một hình thức rừng nghèo phát triển tự nhiên khá phổ biến tại khu vực này.

Đây chỉ hai trong rất nhiều danh từ địa phương rất phổ thông và hiện nay vẫn đang được sử dụng rất bình thường tại khu vực Bình Trị Thiên. Người dân tại khu vực này ai cũng biết với những rú sim, rú cà ổi, rú mân (lộc vừng), rú tràm… Với giới nghiên cứu văn hóa Huế thì hai danh từ này cũng được họ sử dụng bình thường, như cơm ăn áo mặc hàng ngày vậy. Vì trước đây trong những cuốn tự điển (tự vị) tiếng Việt xuất bản đầu tiên ở nước ta như "Đại Nam Quấc Âm tự vị" (Hùynh Tịnh Của - 1894) và "Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức" (1931) - một ở Miền Nam, một ở Miền Bắc đều có mục từ “truông” và chú giải với gần như chung một nội dung: “Đàng (đường) đi qua rừng núi/ vùng đất hoang, cây cỏ mọc như rừng”.

Tức là một danh từ cổ mà tất cả người dân địa phương thì biết, cư dân một vùng cũng biết; thậm chí trong tự điển cổ cũng có diễn giải cụ thể. Nhưng trong những bộ Tự điển quốc gia mới xuất bản thì không có; vì những người biên soạn là những nhà khoa học mới, những nhà văn hóa mới với học hàm học vị đầy mình và tiếng tăm thì nổi như sóng vỗ ba đào nhưng họ không biết gì cả ?

ĐKT
13.07.2017


TỰ SỰ !

Chiều trên phá Tam Giang



"Thương em anh cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang".

Xưa kia ở quê tôi hầu như ai cũng biết hai câu đồng dao này. Nhưng truông nhà Hồ - phá Tam Giang không phải ai cũng biết chính xác nó ở đâu. Và tại sao phải sợ truông nhà Hồ, sợ Phá Tam giang, thì không phải ai cũng biết.

Khu vực là truông nhà Hồ xưa (nay thuộc huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị)

 Mấy hôm nay bầu trời Đăk Lăk mù mịt mưa, vì đang là mùa mưa nên chuyện mưa dầm chẳng có gì là lạ cả. Chỉ tội cho những ai xa nhà vì công việc như tôi, cả tuần nay chôn chân tại nơi trú ngụ. Trong văn phòng ngoài lúc tiếp khách, giải quyết công việc thời gian còn lại chỉ biết làm bạn với cái máy vi tính rồi lại thơ thẩn. Và nhớ quê….

Nhớ, quê tôi trước rào sau biển, nhớ cánh đồng lúa chín vàng, nhớ những độn cát trắng … nhớ câu thơ “quê tôi nghèo lắm ai ơi, mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu cơm !”.

Những người dân quê tôi phải từ bỏ nơi chôn nhau cắt rốn và mồ mã ông bà tổ tiên ra đi tìm đất sống mới. Nhưng oái ăm là chúng tôi phải ra đi không phải là không thể sống ở quê mình vì đất chật người đông hay thiên nhiên không ưu đãi. Mà chúng tôi phải ra đi vì những hành vi của chính con người !

Chuyện cũng đã qua lâu, nhưng tới cái tuổi này tự nhiên lúc vắng vẻ thì nó trở lại như mới hôm qua !

Vì là những kẻ tha phương, nên khi có dịp hội tụ là chúng tôi luôn nói chuyện về quê hương về làng xóm về dòng họ và những người thân. Để bù đắp khoảng trống tình cảm của kẻ xa nhà, nên tất cả những hội đoàn … về dòng họ, về quê hương xứ Huế tại đây (Đăk Lăk) tôi đều tham gia và tham gia một cách năng nổ và nhiệt tình nhất có thể; là một trong những người xây dựng phong trào ở đây.

Vui thì vui thật, nhưng ôi thôi khá là rắc rối … và khá là “hao”, đó là việc của những kẻ “ăn com nhà vác tù và hàng tổng” mà ai cũng biết. Nào là bất cứ cúng giỗ, việc cưới xin, tang gia đều phải có mặt. Riêng câu chuyện đám cưới … cũng khá bi hài. Vì người ta chỉ việc đợi tới giờ thì tới cho cháu mấy trăm ăn vài miếng rồi về; riêng tôi phải mất ít nhất là 02 ngày.

Câu chuyện đám tang thì mới thật sự là rắc rối, vì nghề nghiệp là phải xa nhà. Bà con, bạn bè và những người mình có liên quan thì ở phân tán trong cả một cái thành phố lớn. Nhưng cứ hể có một người nào đó vừa qua đời nhưng khoảng dưới 05 tiếng đồng hồ sau mà không có mặt … thì ôi thôi hàng loạt cuộc gọi và trách móc. Thậm chí đi công cán tận Cambodia nhưng vẫn nhận lời trách “… răng giờ ni không thấy ông Thiện hè ?”… thì thật sự bó tay luôn !

Những dịp hội họp, tự nhiên tôi lại là trung tâm giải quyết mọi sự rắc rối … nhất là những chuyện vui, buồn.

Mới đây, khi tham dự một cái đám cưới của một anh bạn đồng hương trong xã, anh ta làm nghề giáo viên (dạy cấp 3), nên người dự đám cưới con anh ta cũng rất nhiều người là giáo viên (tức là trí thức – theo cách hiểu thông thường). Khi ngồi vào bàn, chỉ mới uống được mấy ly chúc nhau trong bàn … tự nhiên tôi bị một người lớn tuổi tới lôi tới một bàn khác yêu cầu giải quyết một vụ tranh cãi; thậm chí là cá cược một cái độ khá lớn (nếu ai thua phải trả toàn bộ kinh phí tăng 2, tăng 3 gì đó cho 10 người và vài vị trọng tài).
Tôi cũng vui vẻ tới tham gia, khi được yêu cầu làm trọng tài và trực tiếp giải quyết câu chuyện tôi cũng gật. 
Nhưng khi nhìn nét mặt rất căng thẳng của một trong hai vị, tôi chợt giật mình trấn tỉnh lại. Câu chuyện  họ đang tranh cãi có liên quan về hai câu ca dao:

"Thương em anh cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang".

Vị trí thức (là một ông thầy dạy toán cấp 3), cho rằng xã mình (tức xã Vinh Xuân – Phú Vang) là nằm trên bờ phá Tam giang, cái sông Rào mà anh ta thường xuống tắm hay bắt cua, ghẹ từ thuở nhỏ chính là phá Tam giang.
Vị kia chỉ là anh thợ mộc ít học hơn, nhưng nay vì lao động giỏi nên đã phất lên thành một anh đại gia nho nhỏ. Nhưng anh đi đây đi đó nhiều, trường lớp thì ít nhưng trường đời thì nhiều. Anh khẳng định phá Tam Giang là khu vực từ cửa Thuận An trở ra phía Bắc, nay thuộc 03 huyện Hương Trà, Quảng Điền và Phong Điền. Còn khu vực từ Thuận An trở về phía Nam, thuộc huyện Phú Vang và Phú Lộc chỉ được gọi là đầm.
 Và anh ta cũng khá rành rẽ khi cho rằng khu vực sông Rào thuộc xã Vinh Xuân là thuộc đầm Hà Trung, chứ không phải là phá Tam giang. Tất nhiên khi anh thợ mộc này trình bày thì nó hơi lôi thôi và dài dòng một tí, nhưng tôi tóm lược lại như trên.
Anh ta khá ức chế khi ông thầy giáo kia coi thường anh ta ít học khi cho rằng “ chuyện thợ mộc thì tau thua mi, nhưng chuyện ni mi không thể hơn tau được …” và “… cá chi tau cũng cá hết…”.
Chắc là đã tranh cãi âm ĩ khá lâu trước đó, nên khi tôi tới (tới trễ) thì đã thấy anh giáo viên này có nét mặt tái ngắt.

Thật là khó cho tôi vì anh thợ mộc kia nói đúng và vị trí thức kia là sai bét nhè !

Đây mới chính là vị trí Phá Tam Giang

Nhưng giải quyết không khéo thì sinh ra tranh cãi kéo dài; mất tình cảm và tính hơn thua của con người không biết đâu mà lường. Bằng hết khả năng kinh nghiệm và uy tín của mình tôi đã biến cuộc tranh cãi và thách đấu này thành một cuộc vui, một trò đùa nhỏ; hai bên đã vui vẻ bắt tay nhau bỏ qua. Sau khi ra về tôi đã nói nhỏ vào tai anh trí thức kia là “anh đã sai”, và yêu cầu anh ta nên về mở máy tính tìm hiểu lại. Sáng hôm sau anh ta gọi điện cho tôi sớm, cám ơn tôi và nhận mình đã sai.

Nay nhắc lại câu chuyện này, không nhằm bất cứ mục đích gì khác mà chỉ là một câu chuyện kể về những nổi vui - buồn của những người đồng hương xứ Huế sống xa quê. Vì lý do tế nhị nên các nhân vật chính đã được giấu tên, nên những anh bạn cùng quê của tôi nếu tình cờ đọc được những dòng này cũng đừng cho rằng tôi là kẻ nhiều chuyện. 
Tôi chỉ muốn nói một ý là tôi rất yêu quê tôi, tôi hiểu về vùng đất này thấu đáo tới tận cùng mọi ngõ ngách. Mọi câu chuyện về nó từ xưa tới nay tôi cũng biết khá tường tận. 

Rất đơn giản vì đó là nhà tôi - chốn đi về của tôi !

Ở nơi này tuổi thơ tôi đã sống,
Tôi yêu thương với tất cả tấm lòng.
Dẫu lưu lạc khắp chân trời góc bể,
Giấc mơ nào cũng bóng dáng quê hương ! 
Thơ - Nguyễn Huy Hoàng

Tây Nguyên một chiều mưa !

ĐKT
13.7.2017
Một số hình ảnh về phá Tam giang





AI LÀ NGƯỜI ĐẮP THÀNH DIÊN KHÁNH !

Cổng chính thành Diên Khánh hiện nay


Thành cổ Diên Khánh là khu di tích lịch sử cấp quốc gia của tỉnh Khánh Hòa đang được bảo tồn, đây là một trong những điểm du lịch hấp dẫn ở Nha Trang bởi bề dày lịch sử và vẻ đẹp cổ kính của nó.

Ngôi thành cổ Diên Khánh nằm cách thành phố Nha Trang về phía Tây chừng 10 km, cạnh phía bên phải của quốc lộ 1A chỉ vài km, ngay trung tâm thị trấn Diên Khánh của huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Đây là 01 trong 02 ngôi thành cổ duy nhất của Việt Nam hiện nay còn tương đối nguyên vẹn (ngôi thành cổ khác chính là thành cổ Huế). Tuy nhiên khác với thành cổ Huế được xây dựng kiên cố bằng gạch vồ; ngôi thành cổ Diên Khánh được đắp bằng đất trộn rơm, chỉ duy nhất 06 cổng thành là được xây dựng bằng gạch vồ. Thành Diên Khánh được xây dựng vào năm Quý Sửu (1793) dưới thời chúa Nguyễn Ánh. Thành được đắp bằng đất, ngôi thành cổ này đã qua nhiều lần trùng tu; năm 1988 thành cổ Diên Khánh được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Đây là một trong những di tích cổ hiếm hoi và nổi tiếng nhất của Khánh Hòa.


Thành cổ Diên Khánh là một quần thể kiến trúc quân sự theo kiểu Vauban, một hình mẫu thành quân sự phổ biến vào thế kỷ 17 – thế kỷ 18 ở Tây Âu. Với tổng diện tích khoảng 36.000 m².
Tường thành Diên Khánh hình lục giác nhưng không đều nhau, có chu vi 2.693 m được đắp bằng đất trộn rơm, cao khoảng 3,5 m. Trên mỗi cạnh, tường thành lại chia thành nhiều đoạn nhỏ uốn lượn, nên các góc thành không nhô hẳn ra mà vẫn đảm bảo quan sát được hai bên. Mặt ngoài tường thành gần như dựng đứng, mặt trong có độ thoải và được đắp thành hai bậc, tạo đường vận chuyển thuận lợi ven thành.
Ban đầu thành có 6 cửa (cổng thành), nhưng hiện nay chỉ còn 4 cửa Ðông – Tây – Tiền (phía Nam) – Hậu (phía Bắc). Theo các tư liệu cũ, bên trong thành có nhiều kiến trúc độc đáo như hoàng cung, cột cờ, dinh tuần vũ, dinh án sát, nhà kho.
Mỗi cổng thành rộng khoảng 17m, cao 4.5m gồm 2 tầng với lối xây dựng hình vòng cung. Phía ngoài thành có hào sâu từ 3 đến 5 m, rộng từ 20 đến 30 m bao quanh thông ra sông Cái. Bề rộng mặt hào cũng không đều nhau, tại các góc thành thường hẹp hơn (chừng 15m) và rộng nhất là trước các cổng thành, chừng 40m, lòng hào thường xuyên đầy nước từ sông Cái dẫn vào. Bên ngoài hào nước đắp một đường đi để tuần tra, vận chuyển, nhân dân gọi là đường quan phòng. Chung quanh hào lại có luỹ tre bao bọc dầy đặc, rất kiên cố.
Nếu đi từ hướng quốc lộ 1 vào thành chỉ có một con đường độc đạo nối với cửa Đông và cửa Tây của thành.


Bản vẽ thành Diên Khánh

Lợi dụng dịp anh em nhà Tây Sơn  liên tục đánh nhau nhằm tranh quyền đoạt vị, tiềm lực nhà Tây Sơn bắt đầu suy yếu. Năm 1790 Nguyễn Ánh đã sai danh tướng Võ Tánh từ thành Gia Định theo đường thủy kéo binh ra tiến đánh thành Diên Khánh, đánh bại tướng Tây Sơn là Đào Văn Hồ chiếm được phủ thành. Sau khi chiếm được thành Võ Tánh được giao trấn thủ thành Diên Khánh, tại đây Võ Tánh đã dùng mưu đuổi được quân Tây Sơn đến vây thành vào năm 1794. Sau đó ông được phong tước Quận Công kiêm lãnh chức Đại tướng Quân.


Bản đồ hành chánh huyện Diên Khánh

Tuy nhiên theo chính sử cho biết, lúc này thành Diên Khánh chỉ là một đồn binh nhỏ bé của quân Tây Sơn. Sau khi chiếm được vùng đất Khánh Hòa từ quân Tây Sơn, thấy nơi đây là địa bàn chiến lược quan trọng ở Nam trung bộ, Nguyễn Ánh đã cho xây dựng ngôi thành tại Diên Khánh thành một căn cứ quân sự lớn nhằm tính kế lâu dài cho công cuộc giành lại vương quyền. Khi xây xong, ông đã giao cho người con trai trưởng của mình là hoàng tử Cảnh và Bá Đa Lộc trực tiếp chỉ huy trấn giữ. Thời chúa Nguyễn và nhà Nguyễn thành Diên Khánh là thủ phủ của tỉnh Khánh Hòa (cho tới năm 1945); từng có một vị trí chiến lược quan trọng ở Nam Trung bộ, nơi lưu lại nhiều dấu ấn nhiều sự kiện lịch sử của vùng đất này,
Thành Diên Khánh được khánh thành vào năm 1793, là một quần thể kiến trúc quân sự theo kiểu Vauban, một hình mẫu thành quân sự phổ biến ở Tây Âu vào thế kỷ 17, 18. Diên Khánh là ngôi thành thứ hai sau thành Gia Định được xây dựng theo kiểu Vauban ở nước ta.
Nhiều công trình từng được xây dựng ở nội thành Diên Khánh. Khi bước qua khỏi cửa Tiền (cửa chính ở hướng Nam), dành riêng cho nhà vua, hoàng tộc và các đại thần, sẽ gặp một cột cờ lớn, sau đó đến hoàng cung xây theo kiểu Điện Thái Hòa ở Huế. Bên trái hoàng cung là dinh Tuần Vũ, dinh Án Sát, dinh Lãnh Binh và phía dưới là dinh quan Tham tri. Ngoài ra, trong thành còn có một dãy nhà kho đồ sộ và một nhà lao xây tường đá cao kiên cố. Mọi công trình dinh thự, công sở đều lợp ngói âm dương, được trang trí công phu. Tuy nhiên, trải qua chiến tranh và thiên tai, các công trình nội thành Diên Khánh bị tàn phá phần lớn.


cửa Đông vào thành Diên Khánh

 Sau năm 1975, thành cổ được trùng tu gìn giữ, tuy nhiên rất nhiều công trình xây dựng mới được mọc lên khá dày đặc, đó là những công trình mới làm công sở, trường học cho huyện Diên Khánh. Tất cả các cơ quan hành chánh nhà nước và bộ máy công quyền đoàn thể của huyện Diên Khánh đều tập trung trong thành cổ Diên Khánh khiến cho mật độ dân số trong thành tăng cao; ngôi thành cổ nhỏ bé phải chịu nhiều sự tàn phá do áp lực từ nhu cầu của cuộc sống con người.
Nhưng từ cuối năm 2014, UBND tỉnh Khánh Hòa quyết định di dời các cơ quan hành chính, quân sự khỏi nội thành Diên Khánh để biến nơi đây thành phố đi bộ và dần phục hồi các công trình mang dấu tích lịch sử để phục vụ du lịch. Hiện tại chỉ còn một số rất ít các cơ quan huyện được đặt trong thành Diên Khánh như Phòng Giáo dục và Đào Tạo, Cơ quan Công an... và một sân bóng đá.
Hiện nay đang có nhiều công trình nghiên cứu và bài viết tranh luận về việc ai đã xây dựng nên thành Diên Khánh. Tuy tất cả đều thống nhất công nhận việc thành được xây dựng là theo lệnh của Nguyễn Vương (tức Nguyễn Ánh), nhưng ai là kiến trúc sư của công trình này. Và tại sao nó được xây dựng theo lối kiến trúc quân sự theo kiểu Vauban, một hình mẫu thành quân sự phổ biến vào thế kỷ 17 – thế kỷ 18 ở Tây Âu, không phải là lối kiến trúc thành quách phổ biến tại VN và phương Đông lúc bấy giờ ?
Theo đó thành Diên Khánh cùng với thành Gia Định (xây dựng năm 1790) là hai ngôi thành được xây dựng theo kiến trúc quân sự theo kiểu Vauban, một hình mẫu thành quân sự phổ biến ở Tây Âu vào thế kỷ 17, 18; mà những nhà quân sự người Pháp sang giúp cho Nguyễn Ánh đã mang những kiến thức quân sự này từ châu Âu. Sau đó chính họ đã chủ trì hoặc cố vấn cho Nguyễn Ánh xây dựng nên.
Theo Sách Sử Quốc triều chính biên toát yếu do Quốc Sử quán triều Nguyễn biên soạn chép về việc đắp thành Gia Định như sau:
“Đầu năm Canh Tuất (1790), đồn cũ ở làng Tân Khai còn hẹp, bàn rộng đắp thêm (SQT.., sđd, tr. 21).
Trong Gia Định thành thông chí, cụ Trịnh Hoài Đức chép:
        “Ngày 4-2- Canh Tuất (1790) bắt đầu đắp thành Bát Quái hình như hoa sen, mở ra 8 cửa, có 8 con đường ngang dọc…” (GĐTTC, sđd, tr.74).
Nhưng không ghi tên nhân vật đắp thành Gia Định.
Sách Đại Nam quốc lược sử (1904) của Alfred Schreiner cũng ghi là thành Gia Định do Le Brun thiết kế :  “Le Brun (Théodore), là người tình nguyện hạng nhất, ở tàu fré gate Méduse, lên cửa Macao ngày 13 tháng janvier 1790, rồi qua giúp Nguyễn chúa cũng nội năm ấy. Người lãnh làm quan bác vật cùng vẽ họa đồ địa phận Sài Gòn”.(ĐNQLS, sđd, tr. 179).

Trong vấn đề này về phía người Pháp, học giả Alexis Faure, khi biên soạn cuốn sách viết về nhân vật Bá Đa Lộc, đã sưu tầm trong Văn khố Bộ ngoại giao Pháp những văn bản  có liên quan và cho in lại trong một số trang sách của ông.  Học giả Alexis Faure cho biết - trong một báo cáo của de Guignes là một nhân viên (agent) của lãnh sự quán Pháp tại Quảng Đông, trong bản báo cáo gửi về Bộ Ngoại Giao ngày 29/12/1791, cho biết: Olivier de Puymanel và Le Brun là tác giả thành Gia Định, và Puymanel là người xây thành Diên Khánh và các thành trì Vauban khác ở Việt Nam. (Báo cáo của de Guignes gửi Bộ trưởng Ngoại giao ngày 29/12/1791, Archives des Affaires étrangères; Faure, Chương 18, t. 214-215).

Tuy nhiên trái ngược với những ghi nhận đó, một số tác giả và người nghiên cứu sử VN gần đây đã cho rằng chính những người VN mới là tác giả công trình xây dựng (hay đắp) thành Diên Khánh. Cụ thể nhất là tác giả Thụy Khuê trong tác phẩm Vua Gia Long và người Pháp xuất bản gần đây, bằng những phương pháp phân tích văn phạm, câu chữ và tính logic câu chuyện (hay thường gọi là lý sự) của người viết văn đã phủ nhận những gì Quốc sử quán triều Nguyễn ghi chép và những công bố của phía người Pháp !


Ảnh bìa cuốn sách đang gây nhiều tranh cãi

Trong cuốn sách lịch sử của mình với lối lập luận lên lớp thường thấy của một số học giả Mác xít, tác giả Thụy Khuê đã cố công phủ nhận những báo cáo quân sự của chính những chuyên gia quân sự được chính phủ Pháp cử sang trợ giúp cho Nguyễn Ánh xây thành và cả những báo cáo của những điệp viên quân sự núp bóng dưới lốt các giáo sĩ  nhằm thăm dò tình hình nước ta và trợ giúp mọi mặt cho Nguyễn Ánh .
Anh ta cho rằng  các ghi chép ở trên đều không đúng, và cho rằng các thông tin trích dẫn trên xuất phát từ  hai nguồn chính là: Bản báo cáo của de Guignes lá thư của giáo sĩ Lavoué; là chưa thuyết phục. Và những báo cáo đó chỉ là do người báo cáo (điệp viên de Guignes), tự sáng tạo nên câu chuyện Puymanel và Le brun xây thành và tiếp tục lên lớp người đọc: “ Rồi một số tác giả Việt, coi thường hoặc không đọc quốc sử, cứ thế chép lại lập luận của Pháp.

Khoa học là muôn hình vạn trạng, trong đó có cả khoa học lịch sử. Cái hay của người có văn hóa là biết tìm kiếm những cái hay của thiên hạ mà học hỏi. Chứ không phải cứ ai khác ý mình là lên lớp, chửi bới, mạt sát hay thậm chí coi người ta như kẻ thù. Vì muốn tìm kiếm tư liệu cho một bài viết về ngôi thành cổ Diên Khánh, tôi đã phải cố gắng lắm mới đọc hết tác phẩm Vua Gia Long và người Phápxem vị này viết gì. Nhưng hoàn toàn không thấy có gì mới mà chỉ thấy toàn những phân tích câu chữ và gán ghép quan điểm của tác giả lên người khác. Khi vị này liên tục phủ nhận và chửi bới những gì mà người khác viết, thậm chí đó là những trang chính sử của nhà nước (Quốc sử quán triều Nguyễn) hay những báo cáo quân sự mà các điệp viên hải ngoại của nước Pháp gửi về cho chính phủ Pháp của họ “Không biết những gián điệp này lấy những tin này ở đâu, mà lại đầu Ngô mình Sở đến thế”.
Một kiểu phân tích khác của anh nhà văn này, khi cho rằng thành Gia Định được xây dựng năm Canh Tuất (1790) chủ yếu được “đắp bằng  đất trộn rơm (torchis) rất vững chắc, đó là kiến trúc thành đài kiểu Đông phương. Tây chỉ biết xây thành đá hoặc gạch . Tất cả những điểm trên dẫn đến kết luận: Thành Gia Định đã xây trước khi Le Brun đặt chân đến Nam Hà.”.
Đọc tới đây thì tôi có thể biết kiến thức về lịch sử thế giới cũng như lịch sử VN của ông nhà văn này tới đâu ?

Theo đó vấn đề đang nói là lối kiến trúc xây thành theo kiểu pháo đài thời chiến này ở VN và phương Đông thời đó hoàn toàn chưa có. Vậy kiến trúc theo kiểu Vauban ở thành Gia Định và thành Diên Khánh có phải do những cố vấn quân sự Pháp mang sang và giúp Nguyễn Ánh xây dựng nên hay không ? Hơn nữa lúc ấy đang là thời chiến thì lấy gạch nung hay đá ở đâu mà xây thành. Thành Gia định hay thành Diên Khánh lúc ấy cũng chỉ là một cái đồn binh khá nhỏ bé không có dân cư sinh sống, nơi hai phe quân Chúa Nguyễn và Tây Sơn thường xảy ra những cuộc chiến đẫm máu; ngôi thành đổi chủ thường xuyên.
Những ngôi thành lũy lớn, nơi sinh sống của nhiều người dân tại VN trước đây và hiện nay còn lưu lại chỉ có được khi đất nước thanh bình. Thành nhà Hồ được xây bằng đá khi đất nước hòa bình tới 200 năm trước đó (1402), thành cổ Huế chỉ được xây dựng bằng gạch khi Gia Long thống nhất đất nước; thành Hà Nội chỉ mới được xây bằng gạch nung thời vua Minh Mạng (1820-1840)… Khi những thành quách này được xây dựng rất lớn làm kinh đô hay trung tâm hành chánh hoặc thủ phủ của một vùng, khi có điều kiện tập trung nhân tài vật lực mới xây dựng được. Qua chính sử Trung Hoa hay Nhật bản chúng ta cũng dễ dàng thấy tình trạng tương tự.
Bằng lối hành văn phản biện một chiều, tác giả Thụy Khuê khi phân tích câu chữ của một bản báo cáo quân sự của điệp viên Pháp de Guignes: “….làm thành cho vua có nơi rút quân khi thua trận, thì chắc de Guignes muốn nói đến thành Diên Khánh chứ không phải thành Gia Định, bởi vì Gia Định lúc đó là kinh đô, không phải là chỗ “cho vua có nơi rút quân khi thua trận”, chỉ Diên Khánh mới là nơi cho vua dừng chân mỗi khi đánh Quy Nhơn thua trở về.” (Trích: Vua Gia Long và người Pháp…, sđd, tr. 287-288).

Qua chi tiết này chúng ta dễ dàng thấy tác giả Thụy Khuê tuy muốn viết sử nhưng không thuộc sử Việt. Ai cũng biết Nguyễn Ánh đã phải bỏ chạy khỏi thành Gia Định rất nhiều lần trước đòn truy sát kinh hoàng của Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. Thành Gia Định bị tàn phá nhiều lần trong những cuộc chiến. Đồng thời thì thành Diên Khánh mới chỉ mới 01 lần làm nơi “cho vua có nơi rút quân khi thua trận”, khi quân Nguyễn thua trận tại thành Quy Nhơn năm 1801.
Chính từ sai lầm này của tác giả cuốn sách đã dẫn đến rất nhiều sai lầm của các nhà nghiên cứu sử sau đó. Thậm chí là có thể dẫn đến sai lầm của cơ quan quản lý văn hóa của huyện Diên Khánh và tỉnh Khánh hòa. Mới đây trên trang website “Nghiên cứu lịch sử Việt Nam” có một bài viết của tác giả Tôn Thất Thọ với cái tựa khá rõ ràng “ Người đắp thành Gia Định và Diên Khánh” – tác giả trong dòng tông thất này đã đặt ra một câu hỏi, mà theo tôi là khá lạc lõng, khi viết: Vậy ai mới là người cho xây thành Gia Định ?

Là người trong tông thất nhà Nguyễn tối thiểu tác giả cũng biết câu Nôm “ăn cơm chúa múa tối ngày”. Có nghĩa là mọi quyết định xây thành đắp lũy hay mọi quyết định tối cao của triều đại đều do một người quyết định – đó là ông Vua. Việc xây dựng một ngôi thành hay một dinh trấn tuy kiểu dáng, lối kiến trúc, hay quy mô là công sức nhiều kiến trúc sư. Tiền tải vật lực là của quốc gia và của người dân, quân lính - nhưng “Người cho xây” luôn chỉ là quyết định của một người, đó là nhà Vua. Ở đây “người cho xây” chính là Nguyễn Vương – tức Nguyễn Phúc Ánh; điều nay là đương nhiên nên không có gì phải bàn cãi cả !

Từ lập luận của mình tác giả đã trích dẫn một đoạn trong Đại Nam Liệt Truyện do Quốc Sử Quán biên soạn và cho rằng người xây thành Diên Khánh chính là một tướng lĩnh dưới trướng của Nguyễn Ánh tên là Tôn thất Hội :
  “Đại binh vào cửa biển Thị Nại; Hội từ Hà Nha, Cù Mông chia làm hai đường đến đánh úp tên Bảo là con ngụy Nhạc ở Thổ Sơn, Bảo thua chạy về thành Quy Nhơn. Hội cùng đạo binh họp lại để bao vây, giặc có quân cứu viện ở ngoài đến, bèn giải vây về đắp thành Diên Khánh.” (ĐNLT, sđd, tr.73).
 Và cũng trích dẫn một đoạn được cho là trong cuốn Gia phả của dòng tộc vị tướng này rằng:
 “…Bảo tẩu hồi Qui Nhơn thành. Nhạc (Nguyễn Nhạc) bế thành cự thủ, công dữ Vũ Tánh hội chư đạo bộ binh tấn bạc thành ngoại liệt, sách vi chi thích tặc viện chí nãi giải vi, hoàn trúc Diên Khánh thành…” (Tạm dịch: Bảo chạy lui về thành Qui Nhơn. Nhạc đóng cửa, quyết tử thủ. Ông cùng Võ Tánh tập hợp bộ binh đến ngoài Bạc Thành, vây kín. Khi quân cứu viện của Nhạc đến thì bỏ vòng vây, trờ về xây thành Diên Khánh. …)
Và đã vội vàng kết luận: “Như vậy, theo Quốc Sử Quán triều Nguyễn, người xây (đắp) thành Gia Định và thành Diên Khánh chính là Tôn Thất Hội.

Ở đây chúng ta khoan hãy bàn đến chuyện Tôn Thất Hội là ai. Nhưng qua phân tích trên đây cho biết chắc chắn rằng “người cho đắp” thành Gia Định hoặc thành Diên Khánh không người nào khác mà chính là Nguyễn Ánh. Một lầm lẫn khác của tác giả bài viết (Tôn thất Thọ) trích dẫn chính là câu chuyện khi quân Nguyễn chiếm thành Quy Nhơn năm 1799 – đổi tên thành thành Bình Định.
Năm 1801, khi đại quân chúa Nguyễn rút về Gia Định, thành Bình Định được giao cho Võ Tánh và Lễ bộ tham tri Ngô Tùng Châu trấn giữ. Thành Bình Định ngay sau đó bị đại quân Tây Sơn, dưới quyền chỉ huy của Thái phó Trần Quang Diệu và tướng Võ Văn Dũng đến bao vây. Cuộc bao vây kéo dài đến 14 tháng; quân Nguyễn lâm vào nguy khốn.
Cũng trong năm này, Nguyễn Ánh cùng Lê Văn Duyệt  Võ Di Nguy đem đại binh ra tìm cách giải vây cho Bình Định, nhưng quân thủy binh Nguyễn bị quân Tây sơn chặn đứng phía ngoài cửa Thị Nại. Không tiến vào đất liền được nhằm giải vây cho thành Bình Định, thành vẫn bị quân Tây Sơn vây chặt. Sau đó thành Bình Định bị quân Tây sơn chiếm lại; Võ Tánh và Ngô Tùng Châu phải tự vẫn - đó là ngày 27 tháng 5 nămTân Dậu, tức vào ngày 7 tháng 7 năm 1801. Phần lớn quân Nguyễn bị bắt, số còn lại đã phải chạy về thành Diên Khánh cố thủ. Trong đó có thể có cả vị tướng Tôn Thất Hội.

Nhưng khi nghiên cứu về lai lịch của vị tướng này đã cho thấy Tôn Thất Hội (1757-1798), không tham gia trận chiến chiếm thành Quy Nhơn năm 1799 và không thể có câu chuyện sau khi thất trận tại Quy Nhơn năm 1801 ông lui về cố thủ thành Diên Khánh và đắp thành Diên Khánh. Vì khi Nguyễn Ánh đem quân tấn công thành Quy Nhơn đã giao cho ông ở lại trấn giữ thành Gia định, chỉ mấy tháng sau ông đã qua đời vì bệnh tại thành Gia Định (năm 1798), nên làm gì có câu chuyện ông bại trận tại Bình Định nên lui về đắp thành Diên Khánh (1801).
Một chi tiết chính xác nữa sẽ giúp chúng ta bác bỏ nội dung kết luận về việc “ai đã cho đắp” thành Diên Khánh”  của tác giả Tôn thất Thọ. Đó là việc thành Diên Khánh chính do danh tướng Võ Tánh chiếm năm 1790 từ tay quân Tây Sơn và khi được lệnh từ Nguyễn Ánh ở lại trấn thủ bảo vệ thành - năm 1794 ông cũng chỉ huy quân Nguyễn giành thắng lợi khi chống lại cuộc tấn công chiếm lại thành của quân Tây Sơn. Mà như ta đã biết thành Diên Khánh được xây dựng lại hoàn chỉnh năm 1793 – từ ngôi thành cũ của quân Tây Sơn. Vậy ai là người chỉ huy việc đắp thành Diên Khánh, ngoài đó chính là người chỉ huy tối cao của nó – danh tướng Võ Tánh của nhà Nguyễn.

Và như trình bày trên đây, có thể có một vài cố vấn quân sự người Pháp, giúp vẽ kiến trúc thành Diên Khánh theo kiểu bố phòng các cứ điểm quân sự của các lãnh chúa thời Trung cổ tại Châu Âu. Hoặc những tham mưu góp ý của chính vị cha xứ Bá đa Lộc lúc này sống tại chính thành Diên Khánh. Người điều khiển mọi việc đắp (hay xây) thành Diên Khánh chính là danh tướng - Võ Tánh, nhưng chắc chắn Nguyễn Ánh mới là người đã chủ trì tất cả . Và tính chính xác trong kết luận này là không có gì phải bàn cãi cả. Việc không có tên tác giả một thành trì (như một thành phố ngày nay) và không thể biết rõ họ là ai là chuyện đương nhiên dưới thời quân chủ. Vì tất cả là của vua, ai nói không phải là "khi quân phạm thượng" ./.
ĐKT
27.4.2017


Một vài hình ảnh về thành cổ Diên Khánh hiện nay











 *Tài liệu tham khảo:
– Đại Nam Liệt Truyện T2, QSQTN, Nxb Thuận Hóa, 1994.
– Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức, Nxb Giáo Dục, 1999.
– Vua Gia Long và người Pháp, Thụy Khuê, Nxb Hồng Đức, 2007.
– Những người bạn của cố đô Huế (BAVH),Nxb Thuận Hóa,  1914.
Sử Quốc triều chính biên toát yếu, QSQTN, Nxb Thuận Hóa, 1994.
-  Đại Nam quốc lược sử (1904) của Alfred Schreiner.
-  Đại Nam Thực Lục – NXB giáo dục (Trọn Bộ 10 Tập)


Vì sao người quân tử không tranh cãi với kẻ tiểu nhân?

Không tranh cãi với kẻ tiểu nhân Khổng Tử có một cậu học trò rất thích tranh luận. Một hôm, người học trò này đến thăm Khổng Tử t...