LẬT LẠI LỊCH SỬ


Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (13.02.1897 - 10.1902)

Tấm hình trên đây là chân dung của một nhân vật lớn của nước Pháp và VN, đó là một vị toàn quyền Đông Dương Paul Doumer và sau đó là tổng thống của nước Pháp (13.02.1897 - 10.1902)

 Paul Doumer là một nhà chính khách ngoại hạng, sau trở thành Tổng thống Pháp, nhưng là một nhà cai trị độc tài mang lại nhiều thay đổi sâu sắc từ lúc ông ta nhậm chức. Ông thiết lập bộ máy nhà nước bảo hộ và xây dựng cơ sở hạ tầng kiên cố tại Việt Nam. Dưới thời Doumer, hệ thống hạ tầng cơ sở tại Đông Dương được xây dựng rất tốt, ông đã cho xây cây cầu có cùng tên Paul Doumer với ông, một trong những cây cầu lớn nhất thế giới lúc bấy giờ,(nay là cầu Long Biên).
Ông chủ trương biến chế độ bảo hộ thành chế độ thực trị, xóa bỏ chủ quyền và thống nhất của Việt Nam, mang đến phân hóa rõ rệt giữa ba miền. Ông cũng tổ chức khai thác tài nguyên của các nước trong Liên hiệp Đông Pháp, biến Đông Dương thành một thị trường cho kỹ nghệ và thương mãi của Pháp.


Sau khi trở về Pháp, ông tiếp tục tham gia chính trường Pháp, đắc cử Tổng thống Cộng hòa Pháp ngày 13 tháng 5 năm 1931. Ngày 6 tháng 5 năm 1932, ông bị bắn chết bởi một người Nga tị nạn chính trị tại Pháp tên là Paul Gorguloff. Tương truyền khi ông chết, người Pháp định mang thi hài ông táng trong điện Panthéon, nhưng vợ ông không đồng ý, nói rằng: "cả đời ông ấy đã hy sinh cho nước Pháp, còn bây giờ ông ấy là của tôi", rồi bà chôn ông trong khu vườn mộ gia đình, bên cạnh mộ của bốn người con trai, cả bốn đều hy sinh trong Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Trong nhiệm kỳ 5 năm ngắn ngủi của mình, ông Paul Doumer — toàn quyền Đông Dương (từ 1897 đến 1902) đã xây dựng được những công trình rất lớn cho VN, như sau đây:

- Xây dựng tuyến đường sắt xuyên Đông Dương nối với Vân Nam Trung Quốc.
- Xây dựng cầu sắt Long Biên nối hai bờ sông Hồng, cũng là cây cầu đẹp và dài nhất khu vục Đông Nam Á. (lúc đầu cầu mang tên ông đến 1954).
- Xây dựng cầu Việt Trì nối hai bờ sông Lô.
- Xây dựng cầu Quay Hải Phòng bắc qua sông Tam Bạc.
- Xây dựng cầu Hàm Rồng Thanh Hóa nối hai bờ sông Mã.
- Xây dựng cầu Trường Tiền nối hai bờ sông Hương.
- Xây dựng cầu Bình Lợi nối sông Sài Gòn.
- Mở mang đường sá nối Nam Kỳ và Trung Kỳ.
- Chấp thuận đề xuất của ông Yersin và cho xây dựng thành phố Đà Lạt.
- Mở mang, xây dựng cảng Hải Phòng.
- Năm 1901 khởi công xây dựng Nhà Hát Lớn Hà Nội, một công trình văn hóa kiến trúc đặc sắc đến tận bây giờ vẫn chưa có nhà hát nào xứng tầm.
- Đưa Hà Nội vào danh sách một trong những thành phố châu Á đầu tiên có điện...

Cầu Long Biên

Chúng ta hoàn toàn đồng ý và nhất trí với quan điểm của Đảng, rằng:
Việc Pháp cho xây dựng các công trình giao thông, cơ sở hạ tầng ở Đông Dương không ngoài mục đích khai thác thuộc địa, vơ vét tài nguyên thiên nhiên của nước ta. Phục vụ chiến tranh, nhanh chóng điều quân đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta. Mở trường học là để đào tạo đội ngũ làm tay sai cho thực dân Pháp. Xây dựng các công trình văn hóa, sở thú vườn hoa là để phục vụ giới thượng lưu giầu có ...

Cầu Trường Tiền

Nhưng có một điều rất lạ, là: nhân công chủ yếu lúc bấy giờ là người bản xứ, trên 95% là mù chữ, trình độ lao động là “dân ngu khu đen”; dân số nước ta khi đó chỉ mới trên 9 triệu người. Nhưng chỉ một nhiệm kỳ 5 năm ông Paul Doume đã điều hành và làm nên từng đó công việc…

Ngày nay ngoài nội lực, chúng ta còn có thêm sự chi viện của nhiều nước… , với đội ngũ khoa học kỹ thuật phát triển. Nhưng chỉ một đoạn đường sắt Cát Linh tới Hà Đông dài 13,1 km, khởi công từ năm 2008 đến nay (năm 2019) trãi qua 11 năm xây dựng, đội vốn lên gần cả chục nghìn tỷ đồng, kéo dài từ gần hai nhiệm kỳ Thủ tướng & của 3 vị bộ trưởng GTVT đáng kính vẫn chưa hoàn thành.

 Lẽ nào thời đại của chúng ta lại thua một lão già thực dân người Pháp 117 năm về trước ...!?

ĐKT
05/10/2019


MỘT SỰ NGỘ NHẬN LỊCH SỬ CỦA MỘT SỐ THÀNH VIÊN NGUYỄN PHÚC TỘC !

 Ngôi Triệu Tổ Miếu (Triệu Miếu) hiện nay tại Đại Nội Huế 

Câu chuyện được bắt đầu từ  một số bức ảnh do một số nhà báo và khách du lịch chụp tại buổi lễ giỗ lần thứ 294 của chúa Nguyễn Phúc Chu (1725-2019) vị chúa thứ 6  thời các chúa Nguyễn cai trị vùng đất phía Nam
Lễ giỗ được tổ chức vào ngày 21-4 năm Kỷ Hợi, (tức ngày 25.5.2019) tại Triệu Tổ Miếu , trong Đại Nội, Kinh Thành Huế .
Về dự có đại diện của Hội Đồng Trị Sự  Họ Nguyễn Phúc tại Huế; đại diện một số Hệ, Phủ - Phòng của họ Nguyễn Phúc tại Huế và nhiều tỉnh thành trong nước về dự.
Về phía cơ quan quản lý nhà nước có Giám đốc Trung Tâm Bảo Tồn Di tích Cố Đô Huế - ông Võ Lê Nhật.
Buổi lễ húy kỵ đơn giản nhưng khá trang trọng mọi người cùng bái lạy và thắp lên một nén tâm nhang để tưởng nhớ về một vị Chúa có công với nước.



Tấm hình gây nhiều tranh cãi hiện nay

Tuy nhiên có một hình ảnh khá lạ đập vào mắt du khách và người tham dự buổi lễ - đó là một tấm băng rôn màu vàng được treo ngay cổng vào Triệu Tổ Miếu (Triệu Miếu), đây một ngôi miếu thờ Nguyễn Kim, thân sinh của chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Nguyễn Kim đã được triều Nguyễn truy tôn miếu hiệu cho ông là Triệu Tổ (Thủy tổ của dòng họ Nguyễn Phúc). Nội dung tấm băng rôn ghi rõ dòng chữ “ Lễ Húy Kỵ đức Hiển tông Hiếu Minh Hòang đế (Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu) lần thứ 294 (1725-2019)”.
 - Nội dung viết trên tấm băng rôn đã gây nên một sự tò mò và thắc mắc lớn cho du khách và một số nhà báo; tại sao lại có một người lại vừa là Hoàng đế lại vừa Quốc chúa . Và theo họ thì trong những bộ sách giáo khoa phổ thông và các bộ chính sử quốc gia ghi chép thì chúa Nguyễn Phúc Chu, chỉ là một trọng thần của Nhà Lê (Trung hưng) được vua Lê giao trấn thủ vùng đất phương Nam, chứ ông chưa bao giờ là một Hoàng Đế cả. Theo họ được biết, cái danh xưng Chúa cũng do dân gian đặt ra, chứ trong các chức tước thời Lê (Trung hưng) cũng hoàn toàn không có. Nay tại sao Trung Tâm BTDTCĐ Huế lại treo một cái băng rôn ở nơi công cộng với nội dung quái lạ như vậy ? 
- Một số nhà báo và những người có trách nhiệm đã chụp lại tấm băng rôn và đã gửi cho tôi (xin đính kèm theo sau đây!) yêu cầu giải thích. Chỉ cần đọc lướt qua, tôi đã nhận ra là đã có một sự nhầm lẫn khá nghiêm trọng ở nội dung viết trên tấm băng gôn này. Do không có thời gian tôi đã giải thích vắn tắt cho họ rằng :
 - "Ở đây đã có một sự nhầm lẫn, cũng có thể là một sự ngộ nhận lịch sử khá thô thiển, hoặc người viết không có chuyên môn sử học, hay có một ý gì khác mà chúng ta khó nhận ra ?"
Nay cũng theo yêu cầu, tôi sẽ trả lời thật cụ thể nội dung các vị đã hỏi và cũng để cho tất cả những ai quan tâm chủ đề này tham khảo thêm.

Theo tôi, nếu hiểu thuần về chuyên môn thì sở dĩ có chuyện này là do những người viết, những người quản lý không có kiến thức sử học, nên đã không phân biệt được sự khác nhau của miếu hiệu được truy tôn, thụy hiệu được truy tặng với đế hiệu thật của một vị vua đương triều. Để rồi viết lên một câu danh xưng miêu tả một người vừa là Quốc Chúa vừa là Hoàng Đế, khá là ngộ nghĩnh như vậy?





Di tích Triệu Tổ Miếu trước và sau khi được trung tu (2015 - 2016)

Trước hết hãy cùng tìm hiểu về nhân vật chính – Chúa Nguyễn Phúc Chu !

Nguyễn Phúc Chu sinh năm Ất mão (1675), lên ngôi chúa năm 17 tuổi , thời gian ở ngôi là 34 năm (1691-1725). Ông là con cả của Nghĩa vương Nguyễn Phúc Thái. Mẹ ông là Tống Thị Lĩnh ở Tống Sơn, Thanh Hoá (con của Thiếu phó Quận công Tống Phúc Vinh). Thuở nhỏ, ông rất chăm học văn hay, võ giỏi. Ông được phong là Tả binh đinh Phó Tướng Tộ Trường Hầu.
Năm 1691, Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái qua đời. Quân thần vâng di mệnh, tôn ông là Tiết Chế Thủy Bộ chư Dinh Kiêm Tổng Nội Ngoại Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự Thái Bảo Tộ Quốc Công.
Ông lấy hiệu là Thiên túng đạo nhân, cho giảm một nửa thuế ruộng trong năm đó. Trong dân gian thời bấy giờ gọi ông là Quốc Chúa.
Đây là vị Chúa có thời gian trị vì khá dài (34 năm), thời gian trị vì đạt được một số thành công trong việc mở cõi về phương Nam, lập thêm được phủ Bình thuận (1697), bắt đầu đặt phủ Gia định. lập dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài gòn làm huyện Tân Bình, dựng đinh Phiên Trấn, lập xã Minh hương …. Nhiều người Hoa do những biến động chính trị của xã hội Trung Hoa vào cuối thời nhà Minh đã di cư sang khu vực này sinh sống, buôn bán làm ăn đã biến khu vực Sài gòn – Đồng Nai thành nơi có kinh tế phát triển nhất của khu vực Nam bộ thời ấy. 
Năm Mậu Tý (1708), nhân lúc nội bộ nước Chân Lạp rối ren, vùng duyên hải phía Nam của nước này thường xuyên bị người Xiêm tấn công cướp phá; trong đó vùng đất Rạch giá – Hà tiên – Phú quốc (lúc này vẫn đang còn thuộc về Chân Lạp) là nơi có đông đảo người Hoa di cư sang sinh sống buôn bán, kinh tế phát triển, bị người Xiêm tàn phá nặng nề nhất. Mạc Cửu là một người Hoa, vốn là một cựu thần nhà Minh đang được triều đình Chân Lạp giao cai quản vùng đất này bèn xin được theo về với Chúa Nguyễn; xin chúa Nguyễn bảo vệ bằng cách là dâng vùng đất này cho Chúa. Chúa Nguyễn Phúc Chu tiếp nhận, cử binh vào đánh dẹp người Xiêm và bảo vệ vùng đất mới. Sau khi đánh thắng người Xiêm, Chúa dùng Mạc Cửu làm tổng binh trấn Hà Tiên. Lãnh thổ VN có được hình hài như ngày nay là từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725).
Như vậy đây là vị chúa có công nhất trong việc mở rộng bờ cõi về phương Nam.

Sừ cũ cũng cho biết, khi phía Nam đất đai đã được khẩn hoang đến tận biên giới Chân Lạp. Trong nước việc nội trị, võ bị, giáo dục phát triển quy củ, kinh tế được phát triển có quy mô. Bắc Hà tuy có vua Lê nhưng quyền bính ở trong tay Chúa Trịnh. Chúa Nguyễn Phúc Chu muốn tách riêng miền Nam thành một nước độc lập. Chúa sai Hoàng Thần và Hưng Triệt đem quốc thư và cống phẩm sang Trung Hoa cầu phong nhà Thanh. Vua Thanh cũng có ý muốn phong vương cho chúa Nguyễn nhưng triều thần can rằng:
“ Nước Quảng Nam hùng trị một phương, Chiêm Thành, Chân Lạp đều bị thôn tính, sau tất sẽ lớn. Tuy nhiên nước An Nam còn có nhà Lê ở đó, chưa có thể phong riêng được!”
Nên việc yêu cầu nhà Thanh phong Vương cho Chúa không có kết quả.
Chúa Nguyễn Phúc Chu mất năm Ất tỵ (1725) ở ngôi được 34 năm, thọ 51 tuổi. Đây là vị Chúa Nguyễn có số lượng con đông nhất: 146 người, trong đó con trai là 38 người.
Lăng mộ táng tại Kim Ngọc, Hương Trà, Thừa Thiên. Tên lăng được gọi là Trường Thanh
Sau khi nhà Nguyễn được khôi phục (1802), Nguyễn Ánh lên ngôi Vua lập ra triều Nguyễn. Triều đình nhà Nguyễn đã ban cho Chúa Nguyễn Phúc Chu:
Miếu Hiệu  : Hiển Tông(chữ Hán: 顯宗),
Thụy hiệu : Anh Mô hùng lược Thánh Minh Tuyên Đạt Khoan Từ Nhân Thứ Hiếu Minh Hoàng Đế. (Chữ Hán: 英謨雄略聖文宣達寬慈仁恕孝明皇帝),
Viết tắt là : Hiếu Minh hoàng đế (chữ Hán: 孝明皇帝)

Ở đây chúng ta cùng nhau khẳng định rằng Nguyễn Phúc Chu không phải là một vị vua nước Đại Việt, mà chỉ là một trọng thần nhà Lê thay vua Lê cai quản vùng đất phương Nam theo lệ tập ấm cha truyền con nối. 
Đây là một hình thái phân - phong có nguồn gốc từ thời Nhà Chu của nước Trung Hoa cổ đại bên Trung Hoa mà các nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa đều áp dụng. Đó là hình thức Phong tước- Kiến địa, mà ngày nay các nhà sử học Mác - Xít gọi tắt là Phong Kiến, là hình thức phong vương cho các hoàng thân quốc thích và các trọng thần sau đó giao cho họ cai quản một vùng đất xa xôi nào đó. Trên vùng đất được cấp đó họ được toàn quyền sinh sát và định đoạt tất cả như một vị vua theo hình thức cha truyền con nối. Họ chỉ phải triều cống và đóng thuế hàng năm cho triều đình. Vì lý do này chúa Nguyễn Phúc Chu không có niên hiệu riêng mà vẫn phải dùng niên hiệu của nhà Lê (Trung hưng) trong các văn bản nhà nước. Trong tất cả các bộ chính sử cũng hoàn toàn không ghi chép việc Chúa Nguyễn Phúc Chu là một vị vua nước Nam. Sau khi ông mất con cháu đã căn cứ theo điển lệ của triều đình thời ấy (nhất là sau khi triều Nguyễn hình thành) đã truy tôn và phong tặng Thụy hiệu và Miếu hiệu cho ông nhằm thuận tiện cho việc thờ tự cúng kính.

Về vấn đề niên hiệu, thụy hiệumiếu hiệu là gì ? Xin được diễn giải như sau:

Niên hiệu: (Chữ Hán: 年号) là tên của một triều vua, nó đánh dấu thời kỳ bắt đầu và kết thúc thời gian trị vì của một vị vua. Niên hiệu chỉ hiện hữu trong một giai đoạn nhất định gồm các năm nhất định được các hoàng đế Trung Hoa và các nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa như Việt NamTriều Tiên & Nhật Bản sử dụng. Mỗi ông vua thường có một hoặc nhiều niên hiệu riêng. Sau niên hiệu là số năm trị vì. 
Ví dụ: Vua Nguyễn Thế Tổ, có niên hiệu là Gia Long, thời gian trị vì là 1802-1819; nhưng vua Mạc Mậu Hợp có tới 6 niên hiệu, thời gian trị vì tới 39 năm (1554-1592); hoặc vua Lê Anh Tông (Trung hưng) thời gian trị vì chỉ có 17 năm (1556-1573) nhưng có tới 3 niên hiệu là Thiên Hựu, Chính Trị, Hồng Phúc.

Thuỵ hiệu  (chữ Hán: 諡號), còn gọi là hiệu bụt. Trong văn hóa Đông Á đây là một dạng tên được đặt sau khi một người nào đó qua đời. Người được đặt có thể vị vua của một triều đại, những người có công trạng quốc gia, những danh nhân văn hóa.... Trong văn hóa Phật giáo thuỵ hiệu cũng được sử dụng, được dùng để ban tặng cho các vị Cao tăng, Đại sư, Bồ Tát, Quốc sư, Thiền sư, Hoà thượng, Pháp sư, Thượng nhân…
Thụy hiệu cùng với miếu hiệu thường gắn liền nhau vì cùng chung một tính chất là chỉ được đặt ra cho người đã qua đời và mang tính lễ nghi cúng bái.
Việc đặt thụy hiệu đã có từ lâu, khởi nguồn từ nền văn minh Trung Hoa, và dần dần trở thành một tục lệ hiển nhiên trong văn hóa các nước khác trong khu vực. Ngoài các quân vương, thụy hiệu còn dùng cho các quan lại đại thần, quý tộc thậm chí là Hoàng hậu và phi tần .
Theo giải thích của nhà nghiên cứu Thiền Chửu (Nguyễn Hữu Kha) thì chữ Thụy cũng có nghĩa như sau:
"Tên hèm, lúc người sắp chết người khác đem tính hạnh của người sắp chết ấy so sánh rồi đặt cho một tên khác để khi cúng giỗ khấn đến gọi là thụy. Ta gọi là tên cúng cơm."

Miếu hiệu (Chữ Hán: 廟號) là tên hiệu dùng trong tông miếu dành cho các vị vua sau khi họ đã qua đời, đây là một dạng kính hiệu khá đặc trưng của nền quân chủ Đông Á.
Miếu hiệu có nguồn gốc từ văn hóa Trung Hoa, sau khi vị vua tiền triều qua đời, vị quân vương nối ngôi và đình thần cùng thảo luận để tôn viết trên bài vị, hay trên các bài văn tế đọc trong các dịp giỗ chạp. Đặc điểm cơ bản của miếu hiệu là nó thường có một trong hai chữ: Tổ () hoặc Tông (), đi trước thường là một tính từ mang tính miêu tả.
Miếu hiệu thường ngắn, chỉ có 1 tính từ đi với Tổ hoặc Tông, trong khi Thụy hiệu có  thể rất dài, có khi lên hàng chục chữ.
Trường hợp của Chúa Nguyễn Phúc Chu trên đây, miếu hiệu của ông được con cháu truy tặng là : Hiển Tông (chữ Hán: 顯宗),Hiển chỉ là một tính từ có nghĩa là người chết, đã mất(một mặt nào đó nó còn có nghĩa là vinh dự, vinh danh); Tông có nghĩa là giống nòi, là tổ tiên. Hiển tông có nghĩa là tổ tiên đã mất, chỉ đơn giản vậy thôi !

Tóm lại, hai danh xưng này Thụy hiệu, Miếu hiệu thường gắn liền nhau, vì cùng chung một tính chất là “chỉ được đặt ra cho người đã qua đời và chỉ mang tính lễ nghi cúng bái. Chỉ được dùng trong các bài văn tế và sử dụng trong các tông miếu”.
Hay nói cách khác, để tiện cho việc viết và đọc văn tế sau khi một ai đó đã chết, con cháu họ tìm cách nói tránh tên húy của người chết bằng cách là đặt cho họ một cái tên mới theo đức hạnh và công trạng của họ lúc còn sống để tiện cho việc khi cúng giỗ khấn đến, gọi là thụy. Nếu hiểu đơn giản hơn thì đây chỉ là “tên cúng cơm” !  

Mặt khác, hai danh xưng này chỉ có danh nghĩa tượng trưng, chỉ  một hình thức truy tôn (hay ban tặng) cho một người có danh phận đã chết (như giải thích trên đây) trong lịch sử các nền văn hóa Đông Á (Việt Nam, Nhật bản, Trung Hoa  Triều Tiên), không phải là niên hiệu (hay đế hiệu). Tại khu vực Đông Á chỉ có duy nhất nước Nhật - niên hiệu (đế hiệu) của một vị Thiên Hoàng Nhật Bản; sau khi qua đời niên hiệu  trở thành thụy hiệu của họ. Chẳng hạn như vua Mutsuhito , đặt niên hiệu là Minh Trị, sau khi qua đời năm 1912 ông được tôn thụy hiệu là Minh Trị Thiên hoàng.





Thành viên họ Nguyễn Phúc và quan khách tham gia buổi lễ giỗ

Xin trở lại câu chuyện, tại sao người ta lại cố tình tự phong cho một nhận vật lịch sử có thật vừa là Quốc Chúa  vừa là Hoàng đế , trong khi thực tế lịch sử lại không phải như vậy. Như nói trên đây, nếu những người làm việc này không có ý đồ gì khác, thì chỉ có một lý do duy nhất là do họ không có kiến thức sử học ?

Lịch sử hình thành và phát triển các đời chúa Nguyễn và triều Nguyễn kéo dài gân 400 năm được bắt đầu từ một nhân vật có cái tên là - Chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Nhân vật khai sinh ra các đời chúa Nguyễn và nhà Nguyễn này vốn chỉ là một tôi thần phục vụ triều đình nhà Lê (Trung Hưng). Do có hiềm khích với người anh rể là Trịnh Kiểm ông đã xin vua Lê cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa (năm 1558); sau đó được vua Lê gọi ra Bắc nhiều lần để giúp vua Lê chống tàn dư nhà Mạc. Do lập được công lớn, năm Quý Tỵ (1593) được Vua Lê Thế Tôn (niên hiệu Quang Hưng) tấn phong tước Trung Quân đô đốc thủ phủ tả đô đốc chưởng phủ sư thái úy Đoan quốc công (Cái danh hiệu Đoan Quốc Công bắt đầu có từ đó).
Con cháu Nguyễn Hoàng được phong tập ấm (tức là nếu chết con cháu được giữ chức vụ và tước hiệu của họ)

Năm 1600 nhằm thoát ra khỏi sự kềm tỏa của Trịnh Tùng, nhân dịp được vua Lê sai đi đánh dẹp nội loạn ở vùng ven biển Bắc bộ, Nguyễn Hoàng đã dẫn quân bản bộ ra biển dong thẳng vào Thuận Hóa, để lại một người con trai làm con tin. Trước sự đã rồi, vua Lê  và Trinh Tùng sau đó đã sai sứ giả vào Thuận Hóa phủ dụ, vẫn thuận cho Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Hóa, chỉ nhắc nhở việc phải đóng góp thuế cống đầy đủ cho triều đình (nhà Lê).
Từ đó Nguyễn Hoàng và con cháu của ông được giao trấn giữ phương Nam và hưởng bổng bộc của nhà Lê như những tôi thần.
Nhưng sau khi Nguyễn Hoàng mất (1613) đã xảy ra cuộc phân tranh Trịnh –Nguyễn, đã có tới 9 cuộc chiến lớn nhỏ kéo dài trong hơn 50 năm khiến cho đất nước kiệt quệ nhân dân đói khổ, nhất là vùng Thuận Hóa, chiến trường chính của cuộc chiến này.
Thật tế đây chỉ là một cuộc tranh giành quyền lực giữa hai thế lực Trịnh - Nguyễn, nhưng trong các cuộc chiến này hai bên đều lấy danh nghĩa vua Lê để tiêu diệt bên kia. Chúa Trịnh thì cho rằng chúa Nguyễn là thành phần cát cứ, là giặc nổi loạn ở phương Nam; không nộp thuế cho triều đình, chiếm đoạt giang san của vua Lê cần phải đánh dẹp. Các Chúa Nguyễn  thì cho rằng Chúa Trịnh là những quyền thần lộng quyền lấn át quyền lực vua Lê cần phải loại ra khỏi triều đình. Nhưng sau hơn 50 đánh nhau do thấy khó bề tiêu diệt đối thủ, hai thế lực Trịnh – Nguyễn bắt tay hòa hoãn, lấy sông Gianh làm giới tuyến, giang san ai nấy ở, khiến cho đất nước bị chia đôi trong hơn 150 năm.

Tuy nhiên trong suốt thời gian ấy để thu phục nhân tâm và giành chính nghĩa về phía mình, hai thế lực Trịnh – Nguyễn vẫn khép mình lại làm một trung thần phò Vua giữ nước, chống lại quyền thần và nạn các cứ. Họ tuyệt đối không bao giờ xưng vương hay xưng đế, các chúa Nguyễn vẫn dùng niên hiệu nhà Lê trong các văn bản giấy tờ của nhà nước, thậm chí họ vẫn gửi sứ giả ra Thăng Long chúc thọ vua hay tham gia các lễ trọng của triều đình nhà Lê – Trịnh.
Nói tóm lại chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) - chỉ là một vị chúa bình thường như 05 vị chúa trước đó, là một trọng thần của nhà Lê Trung Hưng được vua Lê sai trấn thủ phương Nam. Hòan toàn không có việc xưng vương hay xưng đế tại Phú Xuân hay vùng đất phía Nam dưới thời gian trị vì của vị chúa Nguyễn này.

Mãi cho tới 13 năm sau, năm Giáp Tý (1744), dưới thờì chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765); Chúa Nguyễn Phúc Khoát mới quyết định đoạn tuyệt với nhà Lê bằng cách xưng vương. Chúa đã cho đúc ấn Quốc Vương, lên ngôi vương ở phù Phú xuân và ban chiếu bố cáo thiên hạ; sau đó là chế triều nghi, phân cấp ngôi thứ, ban tước cho hoàng tộc và các trung thần; thay đổi cách xưng hô trong hoàng tộc …. Tuy nhiên do không được nhà Thanh thừa nhận và phong vương nên triều đình nhà vua mới này vẫn phải dùng niên hiệu của nhà Lê (Trung hưng), trong tất cả công văn giấy tờ và văn bản nhà nước.
Để Phú Xuân xứng đáng là một kinh đô; từ năm Giấp Tuất (1754) nhà vua mới đã cho xây dựng thêm hàng loạt các cung điện, đền đài mới theo quy mô đế vương, cho cải tạo và xây dựng hàng loạt các công trình công cộng và dân sinh khác, biến Phú Xuân thành một khu thị tứ lớn nhất Đàng Trong lúc ấy !
Sử cũ cho biết, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), kinh đô Phú Xuân trở thành một nơi đô hội lớn, văn vật thanh dung lừng lẫy, mà các đời Chúa trước chưa từng có. Nhà vua mới cũng bắt đầu tổ chức đón tiếp các đoàn sứ giả, các quốc vương của các vương quốc láng giềng sang thăm viếng và lập quan hệ ngoại giao.

Đây mới là sự thật lịch sử, lịch sử  nó khác với truyền thuyết vì truyền thuyết là những điều không có thật. Truyền thuyết là do một vài cá nhân tạo nên và người ta đang cố công tìm một tấm giấy khai sinh cho những điều mà họ tự vẽ ra. Đó là điều không nên đối với những người thật sự muốn học hỏi !




Những kiến thức tối thiểu này cũng đã được ghi chép khá đầy đủ trong những cuốn sách như thế này.

Tiếc rằng một số người hiện đang làm công tác quản lý văn hóa, thậm chí là rất nhiều người trong dòng họ Nguyễn Phúc cũng không biết được những điều tối thiểu này. Họ đã không phân biệt được, như thế nào là niên hiệu (đế hiệu), như thế nào là thụy hiệu, như thế nào là miếu hiệu. Để rồi dẫn tới cách hiểu một sự thật lịch sử khá là mơ hồ, làm lẫn lộn những danh phận của chính tổ tiên họ. Thậm chí khi bị chất vấn vụ việc trên đây, một thành viên của BTS họ Nguyễn Phúc đã trả lời cho chúng tôi rằng:

Ngài Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng Đế húy là NGUYỄN PHÚC CHU QUỐC CHÚA hay CHÚA MINH còn gọi là MINH VƯƠNG (1675-1725). Ngài mất, lăng táng tại Kim Ngọc (Hương Trà, Thừa Thiên). Tên lăng là Trường Thanh. Đến đời vua Gia Long, ngài được thờ tại Thái Miếu, án thứ ba bên tả.
Thế tử lên ngôi, dâng thụy hiệu là: Đô Nguyên Súy Tổng Quốc Chính Khoan Từ Nhân Thứ Tộ Minh Vương. Đến đời Vũ Vương, ngài được truy tôn : Anh Mô Hùng Lược Thánh Văn Tuyên Đạt Khoan Từ Nhân Thứ Hiếu Minh Vương.
Vua Gia Long truy tôn: Anh Mô Hùng Lược Thánh Văn Tuyên Đạt Khoan Từ Nhân Thứ Hiếu Minh Hoàng Đế

Miếu hiệu là Hiển Tông ....”
Danh xưng trên được Hoàng Đế Gia Long ban tặng, theo bạn là "không hợp lẽ cho lắm" kể cũng lạ!
Kể cả các con trai ( gọi là Hoàng Nam) con gái (gọi là Hoàng Nữ) của các vị Tiên Chúa, khi Phụ Hoàng của họ đều được Truy tôn là Hoàng Đế, thì nghiễm nhiên họ được sử dụng với chức danh tước vị cao nhất là những Hoàng Tử hay Công Chúa cũng không có gì là "không hợp lẽ"
( họ cho là đã trích từ cuốn Nguyễn Phước Tộc Thế Phả trang 138 sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, Quyển VIII)


Phải chăng sau khi triều Nguyễn sụp đổ, thì kiến thức về dòng họ Nguyễn Phúc cũng dần biến mất theo thời gian ?

LỜI KẾT:
Sau khi đọc những dòng hồi âm này của một số thành viên Nguyễn Phúc gửi cho, chúng tôi  - những người đã nhiều năm học hỏi và nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử các chúa Nguyễn và triều Nguyễn xét thấy không cần trao đổi gì thêm nữa. Họ không phải là những đối tượng để chúng tôi trao đổi học hỏi. Vì không phải cứ là thành viên của họ Nguyễn Phúc là biết tất cả về lịch sử dòng họ mình. Đó không chỉ đơn giản là lịch sử của một dòng họ mà còn là lịch sử của một triều đại, một thể chế chính trị kéo dài gần 400 năm. Việc tìm hiểu sự thật về một thời kỳ lịch sử đầy biến động và đau thương nhất này của nước Việt không phải là câu chuyện mà ai cũng hiểu được và làm được !
Việc con cháu họ Nguyễn Phúc hiện nay tự hiểu, tự tôn và tự xưng các danh xưng của tổ tiên họ như thế nào là việc của họ, không còn ảnh hưởng gì đến văn hóa và tinh thần của người dân VN nữa. Vì vị vua cuối cùng là Bảo Đại đã thoái vị, triều Nguyễn đã không còn; tông thất nhà Nguyễn và giới quý tộc nhà Nguyễn cũng đã bị chính phủ Ngô Đình Diệm giải tán năm 1956. Cung vàng điện ngọc, lầu đài thành quách và tài sản của hoàng tộc triều Nguyễn ở tại Huế và phía Nam đã bị chính phủ Ngô Đình Diệm tịch thu, sung vào công quỹ và trở thành tài sản quốc gia.
Sau năm 1975 đã trở thành tài sản của toàn dân do nhà nước quản lý, việc bảo quản, trùng tu, tôn tạo tất cả các di tích triều Nguyễn tại Huế đều do Trung Tâm bảo tồn di tích cố đô Huế đảm trách, kinh phí hoạt động đều do ngân sách tỉnh cấp.
Vào năm 2016 di tích Triệu Tổ Miếu (Triệu Miếu), sau hơn 200 năm xây dựng đã xuống cấp, tỉnh đã quyết định cấp kinh phí cho Trung tâm BTDTCĐ Huế để trùng tu lại toàn bộ di tích này với số tiền là 35,6 tỷ đồng, trong đó có đóng góp của các tổ chức văn hóa – xã hội của nước Mỹ cho việc xây dựng là 7000.000 USD (khoảng 15 tỷ), đóng góp phục hồi các án thờ tại Triệu Tổ Miếu 613 triệu VND (trên tổng số là 643 triệu VND, tức là hơn 90%)./.

Đà Nẵng, ngày 28.5.2019
ĐKT

Ghi chú
Bài viết có sử dụng một số hình ảnh về buổi lễ giỗ do ông Nguyễn Phước Vĩnh Khánh đăng trên FB cá nhân. Một số ảnh chụp tư liệu khác do tác giả sưu tầm trên mạng thì không tìm thấy tên tác giả; vì những người sử dụng trước đó tuy không phải là tác giả nhưng họ không trích dẫn nguồn. Nên không cần thiết phải hỏi ý kiến, hay xin phép họ./.

Tại sao Liên Xô không công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian 1945 – 1949 ?

Churchill, Truman Stalin tại Đức (từ 16 tháng 7 đến 2 tháng 8 năm 1945.)

Đây là một trong những câu hỏi khá tế nhị trong quan hệ VN – Liên xô trước đây cần phải được làm rõ. Một thời gian dài trước đây khi mối quan hệ này đang nồng ấm và nhà nước Liên Xô đang tồn tại thì đây là một câu hỏi không ai dám hỏi và tất nhiên sẽ không bao giờ có câu trả lời !

Đó là lý do tại sao nhà nước Liên Xô không công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian 1945 – 1949; mà mãi tới ngày 30 tháng 1 năm 1950 mới công nhận ?

Chỉ sau khi Liên Xô và khối Đông Âu sụp đổ (1991), nhiều học giả VN đã bắt đầu tìm cách lý giải vấn đề này để tìm ra một trong những bí mật của thời chiến tranh lạnh.
 Đã có một vài lý giải khá đơn giản được đưa ra. Một vài học giả cho rằng sau chiến   
thắng của Liên Xô trước phe phát xít (1945), khối Đông âu đã hình thành; Liên xô đang tăng cường giúp đỡ các nước trong khối để củng cố sức mạnh của mình ở  phía Tây làm đối trọng với phe Anh – Mỹ. Cho nên vào thời kỳ này đối với Liên Xô thì Việt Nam (VN) chỉ là một quốc gia nhỏ bé, chưa có vị thế ở khu vực Đông Nam Á. Liên Xô chưa tin tưởng vào thành quả cách mạng ở VN; nhất là sau khi Đảng Cộng Sản Đông Dương phải tự tuyên bố giải tán và lui vào hoạt động bí mật (ngày 11 tháng 11 năm 1945).

Nhưng sự thật không phải như vậy !

Sau khi những tài liệu bí mật của mối quan hệ VN – Liên xô trước đây mới được phía Nga bạch hóa, đã cung cấp cho chúng ta biết được một trong những bí mật của thời kỳ chiến tranh lạnh. Thật ra phía Đảng CS Liên xô đã tích cực ủng hộ Đảng CS VN suốt trong thời gian từ khi Đảng ra đời (1930) cho tới năm 1945, đa số các lãnh tụ tiền khởi nghĩa của VN đều được đào tạo tại Liên Xô sau đó được tung về nước qua ngã Trung Quốc để lãnh đạo cách mạng VN.

Nhưng từ khi tham gia phe đồng minh (chủ yếu là 03 nước lớn Mỹ, Anh, Liên xô), sau đó cùng phe đồng minh chiến thắng trước phe Trục (Đức – Ý – Nhật); Stalin và Liên Xô đã buộc phải ký với các đồng minh một số thỏa ước ràng buộc để nhận được viện trợ quân sự và lương thực của Anh – Mỹ, cũng như yêu cầu Anh – Mỹ mở mặt trận thứ hai ở Tây Âu nhằm chia la cho Liên Xô trước sức tấn công như vũ bảo của phát xít Đức vào lãnh thổ Liên Xô.
Sau chiến thắng trước phe Trục, Liên Xô đã bị ràng buộc bởi các thỏa thuận này kể cả các thỏa thuận về việc phân chia khu vực đóng quân và khu vực ảnh hưởng sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

Trong giới hạn của bài viết, tôi sẽ dẫn chứng và chứng minh một chuỗi sự kiện có thật (nhưng không phải ai cũng biết ?) trong lịch sử hiện đại VN giai đoạn 1945 - 1949.

Đoàn người biểu tình ngày 19 tháng 8 năm 1945 trước cửa Bắc Bộ phủ, Hà Nội

Giai đoạn này quyền định đoạt vận mạng của đất nước ta nằm trong tay người nước ngoài. Đồng thời đây cũng chính là giai đoạn lịch sử mà rất nhiều sử sách đã nhầm lẫn khi nhận định và đánh giá sự kiện !

Theo đó, sau khi Chiến tranh thế giới lần II kết thúc, những nước thắng trận dẫn đầu là Mỹ, Anh, Liên xô (mà ta thường gọi là các nước Đồng Minh) đã ban hành một số chính sách đối với các vùng đất vốn là thuộc địa bị phát xít Nhật chiếm đóng ở Viễn đông trước và trong thế chiến thứ II. Trong các chính sách đó có 02 điểm đáng chú ý nhất, vì nó có liên quan đến VN: 
1/- Các thuộc địa này, sau thời điểm Nhật tuyên bố đầu hàng (15/8/1945), sẽ do Đồng Minh ủy nhiệm lực lượng quản trị tạm thời một thời gian, sau đó trao trả độc lập cho chính phủ bản địa hợp pháp - hợp hiến. 
2/- Trong trường hợp quốc gia thuộc địa nào đã từng hiện hữu chính phủ bản địa hợp pháp & độc lập TRƯỚC KHI Nhật xâm lược sẽ được giao trả ngay độc lập cho quốc gia ấy.

Với quy định này phe Đồng Minh đã giao trả ngay đất nước Trung Hoa cho chính thể "Trung Hoa dân quốc" của Tưởng Giới Thạch, vì đây là thể chế độc lập đã hiện hữu trước khi Nhật xâm lược (thuộc vào trường hợp 2). 
Trái lại nước (thể chế) "Mãn Châu quốc" - được thành lập dưới thời người Nhật chiếm đóng, chứ không phải xuất hiện trước khi Nhật xâm lược nên không được Đồng Minh thừa nhận, mà giao lại cho Trung Hoa dân quốc (Mãn Châu đã thuộc về Trung Hoa dân quốc sau cách mạng Tân Hợi 1910 lật đổ nhà Thanh).
Riêng trường hợp của VIỆT NAM ?
1/. Trước khi Nhật xâm lược, VN là thuộc địa của Pháp (không hiện hữu một chính phủ bản địa độc lập). 
2/. Chính phủ "Đế quốc VN" của ông Trần Trọng Kim thành lập vào tháng 3/1945, với sự cố gắng của một số nhân sĩ yêu nước và các nhà chính trị VN lúc ấy là nỗ lực giành độc lập cho người VN. Tuy nhiên chính phủ này ra đời dưới thời người Nhật chiếm đóng, cũng tương tự như "Mãn Châu quốc", nên rơi vào trường hợp 1. 
3/. Trái lại Chính phủ "VNDCCH" của chủ tịch Hồ Chí Minh được tuyên bố ra đời ngày 02.9.1945 tuy là có tổ chức bầu cử, được nhân dân ủng hộ… nên theo lẽ thông thường là chính phủ hợp hiến. Nhưng lại xuất hiện SAU thời điểm Nhật đã đầu hàng Đồng Minh là ngày - 15/8/1945, do đó phe Đồng Minh đã không công nhận chính phủ này và vẫn áp dụng chính sách ủy nhiệm quản trị tại VN. 

Nguyễn Ái Quốc (người ngồi giữa) và cố vấn Vĩnh Thụy tại Hà Nội năm 1945

Cho nên, sau đó tuy chủ tịch Hồ Chí Minh với chính sách ngoại giao khéo léo và mềm dẻo của mình đã tuyên bố là đứng về phía Đồng Minh chống Nhật, nhưng Đồng Minh vẫn không thừa nhận chính phủ "VNDCCH" của chủ tịch HCM là chính phủ hợp pháp.
Đây mới chính là sự thật lịch sử, sự thật này đã được lưu lại trong những tài liệu, sử sách của phe Đồng Minh, của Hội Quốc Liên (Liên Hiệp Quốc) và những nước có liên quan như Anh, Pháp, Mỹ, Trung Hoa… khá rõ ràng và chính xác; nên không thể có ai đó tự vẽ ra lịch sử khác với thực tế lịch sử này được !

Vấn đề còn lại là do quan điểm chính trị của những người Việt trong một thời gian dài sau đó là khá khác nhau; nên đã dẫn đến cách nhìn nhận diễn trình lịch sử thiếu khách quan, rối rắm. 

Nhưng nếu ai đó muốn có một góc nhìn thực sự khách quan trong cách nhìn nhận lịch sử của giai đoạn này, chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy một sự thật là:
- Trước năm 1858, VN là một quốc gia độc lập, toàn vẹn lãnh thổ. Dưới thời nhà Nguyễn (1803-1945) – VN là một nước lớn và khá hùng mạnh tại khu vực Đông Nam Á. Khi người Pháp bắt đầu xâm lược VN (1858) cho tới khi triều đình nhà Nguyễn bị buộc phải ký Hòa ước Nhâm Tuất (1868) cắt 3 tỉnh miền Đông cho Pháp; nước VN bị Pháp đô hộ dưới các hình thức bảo hộ và thuộc địa cho tới tháng 3/1945. 
- Tháng 3/1945 cho đến tháng 8/1945: Nhật đảo chính Pháp và cai trị toàn bộ VN cho đến ngày Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng Minh 15/8/1945.
- Từ tháng 8/1945 cho đến hết năm 1949: Việt Nam trở thành xứ sở được cai quản theo ủy nhiệm của Đồng Minh. 
Theo đó, miền Bắc do Trung Hoa dân quốc cai quản (tức là quân đội của Tưởng Giới Thạch), miền Nam do Anh quốc cai quản. Nhưng sau đó người Pháp đã có những thao tác ngoại giao để cuối cùng buộc được quân Trung Hoa lẫn Anh quốc rút khỏi VN, giao lại cho Pháp cai trị ủy nhiệm.

Ở đây, mọi người hãy lưu ý là từ tháng 8/1945 tới hết năm 1949, người Pháp cai quản VN theo danh nghĩa ủy nhiệm của Đồng Minh chứ VN không còn danh nghĩa thuộc địa của Pháp như trước đây. Không còn chức danh Toàn quyền Pháp, mà chỉ là Cao ủy (của Liên hiệp quốc); đội quân thực dân (Pháp) trở thành quân đội của Liên Hiệp quốc.
Từ lưu ý này chúng ta đã có câu trả lời và đã cho chúng ta biết tại sao một thời gian dài từ khi chính phủ VNDCCH ra đời (9/1945) cho tới hết năm 1949 - chính phủ Liên Xô, (kể cả chính phủ Trung Quốc) lúc bấy giờ đã không công nhận chính phủ VNDCCH của Hồ Chí Minh là chính phủ hợp pháp! 

Vì chính sách ủy nhiệm quản trị đối với VN là quyết nghị chung của Đồng Minh (gồm Mỹ, Anh, Liên Xô...) nên Liên Xô đã không thể "xé rào".

Khi chính phủ “VNDCCH” không được Đồng Minh thừa nhận chính thức, thì tất nhiên sẽ không được bất cứ quốc gia nào công nhận và đặt quan hệ bang giao chính thức trong giai đoạn cai quản ủy nhiệm của Liên Hợp Quốc (1945-1949).

Sau khi hất người Anh ra khỏi Đông Dương và xua đội quân Tàu -Tưởng về bên kia biên giới; người Pháp đã có những toan tính nhằm đưa VN trở lại hình thức thuộc địa, như một lãnh thổ hải ngoại của họ ở viễn đông. Tuy nhiên, thời thế đã đổi khác. 

Sau chiến tranh thế giới II, tổ chức quốc tế lớn nhất – Liên Hợp Quốc đã hình thành, thế giới đã bước vào kỷ nguyên giải trừ thuộc địa !”. Tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc các nước đã thúc đẩy và đã cho ra đời một nghị quyết cho việc chấm dứt chế độ thuộc địa. Nghị quyết yêu cầu các cường quốc thuộc địa Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha… trao trả độc lập cho các quốc gia bị họ chiếm đóng ở châu Phi, châu Á, châu Úc và châu Mỹ La tinh.
Chính lý do này và trước xu hướng mới trong chính trị thế giới, đã gây áp lực . Sau khi hết thời gian cai quản ủy nhiệm của Liên Hợp Quốc (1945-1949), người Pháp đã buộc phải trao trả độc lập cho người Việt Nam và một chính phủ của người VN đã được thành lập. 
Phủ Toàn quyền Pháp năm 1950

Đây là lý do của sự ra đời và tồn tại thể chế QUỐC GIA VIỆT NAM (từ 1949 đến 1955) của Quốc Trưởng Bảo Đại. 
Với quốc hiệu là "Quốc gia VN" (State of Vietnam), quốc gia non trẻ này tính đến đầu năm 1950 đã có 35 nước đặt quan hệ ngoại giao chính thức.



Ở một khía cạnh khác, những người nghiên viết sử cần phải biết là, khi giai đoạn ủy nhiệm cai trị của người Pháp, 1945-1949, chấm dứt. Về công pháp quốc tế, từ năm 1950 – nước VIỆT NAM đã xuất hiện trên bản đồ thế giới trong tư cách một quốc gia độc lập (qua Hiệp ước Élysée)! 

Từ đây dân tộc VN mới "danh chính ngôn thuận" có một chính phủ của người VN; hiện diện trên toàn cõi đất nước và được quốc tế công nhận (không phân biệt chính phủ đó là của ai, thuộc phe phái nào ?)! 
Tuy nhiên như chúng ta đều biết, sau khi chính phủ "Quốc gia VN" ra đời (1949), người Pháp đã dùng nhiều cách để duy trì ảnh hưởng và quyền lực của họ trên đất nước VN (kéo dài đến năm 1954).

Nhà hát lớn Hà Nội năm 1954

Lời kết
Hiện nay có một số học giả đã đưa ra nhiều nhận định khác nhau về lịch sử giai đoạn này của VN; tuy nhiên đa số các nhận định này là thiếu khách quan, một chiều và khá phiến diện nếu không muốn nói là cả một sự sai lầm.

Khi đọc những "bài viết" này tôi cũng đã cố ép mình hiểu rằng đây có thể là chủ đích một chiều của họ. Nhưng sau khi đọc kỹ tôi mới biết là họ hoàn toàn không có ý đồ muốn bẻ cong ngòi bút vì một lý do nào đó; mà đơn giản là họ không có tư liệu lịch sử, họ không có kiến thức chuyên môn để viết sử và nhận định lịch sử nhưng vẫn cứ nhắm mắt viết … bừa.

Vì cái gọi là “kiến thức lịch sử” ở đây chỉ là việc họ chép lại nguyên văn một sự kiện lịch sử từ một cuốn sách chính thống nào đó, hay sao y nguyên văn lời kể của một nhân vật từng tham gia sự kiện lịch sử mà họ cần biết. Sau đó căn cứ vào những gì ghi chép được họ đưa ra những nhận định và đánh giá sự kiện lịch sử đó theo ý kiến chủ quan của mình. Nhưng sẽ rất nguy hiểm là nếu người viết không có kiến thức chuyên môn sâu thì sẽ dễ dàng dẫn đến việc có những nhận định sai về một sự kiện lịch sử, nhất là lịch sử cách mạng VN. Cũng bởi lịch sử không đơn thuần chỉ là một câu chuyện kể mà nó còn cần có những nhận định và đánh giá lịch sử một cách chính xác của người viết sử và người đọc sử.

Khi đọc bài này, có thể có ai đó cho rằng - đây chỉ là câu chuyện thuần về chuyên môn; nhưng nếu không có chuyên môn mà dám nhận định một sự kiện lịch sử thì nó có thể dẫn đến những nhận định sai lầm về sách lược chính trị, ngoại giao. Và sau đó sẽ kéo theo hàng loạt những sai lầm về kinh tế, văn hóa - xã hội khác…/.

Đà Nẵng, 26/01/2017

ĐKT

Vì sao người quân tử không tranh cãi với kẻ tiểu nhân?

Không tranh cãi với kẻ tiểu nhân Khổng Tử có một cậu học trò rất thích tranh luận. Một hôm, người học trò này đến thăm Khổng Tử t...