DI TÍCH LỊCH SỬ - KHÁCH SẠN MORIN HUẾ.


Khách sạn Morin năm 1966; với cảnh nữ sinh Đồng Khánh giờ tan trường.

Khách sạn Saigon Morin Huế, hiện tọa lạc tại số 30 đường Lê Lợi, TP Huế vốn là khách sạn du lịch ra đời sớm nhất tại miền trung Việt Nam. Khách sạn nằm tại trung tâm của TP Huế, ngay đầu cầu phía Nam của cầu Trường Tiền, cộng với cái quảng trường nhỏ trước cửa khách sạn và bên trái là đài phát thanh Huế. Đây là một địa điểm, một di tích lịch sử quan trọng bậc nhất của xứ Huế; nơi đây đã xảy ra hầu hết các sự kiện văn hóa, tôn giáo, chính trị quan trọng nhất của xứ Huế qua các thời kỳ. Nhất là dưới thời thuộc Pháp và dưới thời VNCH.


Khách sạn Morin năm 1901


Ông chủ đầu tiên của khách sạn Morin
Do là khách sạn sang trọng nhất và nằm ở trung tâm thành phố nên ngoài việc phục vụ du khách, khách sạn còn đảm nhiệm vai trò " Nhà khách" của Chính phủ thời quân chủ. Tọa lạc tại một vị trí đắc địa nhất thành phố Huế; đây là khách sạn lớn nhất và đẹp nhất tại kinh đô Huế cho tới năm 1957. Khách sạn này là nơi đã từng lưu lại dấu ấn của nhiều chính khách, thương gia, các ngôi sao điện ảnh, nhà văn nổi tiếng thời bấy giờ như nhà văn Pháp nổi tiếng Andre Malraux, đặc biệt vua hề Serlo Charlie Chaplin và Paulette Godard đã có kỳ nghỉ tuần trăng mật tại đây năm 1936. Giai đoạn 1907-1945 khách sạn được dùng làm trung tâm cộng đồng Pháp, nó có quy mô gồm 72 phòng, có 1 thư viện, 1 tiệm ăn, một số phòng trà, 1 rạp ciné, một số tiệm tạp hóa.

Khách sạn Morin năm 1907


Khách sạn Morin do một doanh nhân người Pháp tên là Bogarde xây dựng và đưa vào kinh doanh từ năm 1901. Nhưng tới năm 1904 xảy ra cơn bão Mậu Thìn lịch sử đã gây thiệt hại nặng nề cho khách sạn, nên nó phải ngưng hoạt động. Một năm sau một nhà buôn người Pháp tên là Alphonese Guerin đã mua lại, cho sửa chữa và đưa vào hoạt động trở lại từ năm 1905 với tên mới "Le Grand Hotel de Hue". Tới năm 1907 anh em nhà Morin làm chủ, quản lý mọi hoạt động của khách sạn và đổi tên thành Morin cho tới năm 1953.

Khách sạn Morin năm 1942


Khách sạn Morin năm 1957


Năm 1954, sau khi người Pháp rút khỏi VN khách sạn được giao cho một người trong hoàng tộc quản lý. Nhưng sau khi ông Ngô Đinh Diệm lên nắm quyền, đã khởi xướng một phong trào tịch thu và sung công tài sản của hoàng tộc nhà Nguyễn. Cũng chính vì lý do này, nên năm 1957 chính phủ Ngô Đình Diệm đã tịch thu khách sạn và giao cho Viện Đại học Huế sử dụng làm trường Đại học sư phạm (Văn khoa), cho tới năm 1975. 
Khách sạn Morin trong trận chiến tết Mậu Thân (1968)

Khách sạn Morin năm 1968

Khách sạn Morin năm 1973

Từ năm 1975 – 1988 vẫn được trường Đại học Tổng hợp Huế sử dụng. Năm 1989 chuyển giao cho sở Du Lịch Thừa Thiên làm khách sạn đúng như công năng ban đầu của nó.

Khách sạn Morin năm 1983

Khách sạn Saigon - Morin năm 1997
Sau khi được sửa chữa và nâng cấp thành một cái khác sạn lớn nhất TP Huế thời ấy. Nhưng sau một thời gian dài trực thuộc công ty du lịch TT- Huế, đơn vị chủ quản do không có khả năng quản lý, kinh doanh đã khiến cho khách sạn liên tục thua lỗ, tình trạng cơ sở vật chất của khách sạn ngày càng xuống cấp. Năm 1996 lãnh đạo tỉnh đã buộc phải mời gọi nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào khách sạn theo hình thức liên doanh liên kết nhằm tận dụng nguồn vốn và khả năng điều hành kinh doanh của bên ngoài. Công ty du lịch Saigon của UBND thành phố Hồ chí Minh được chọn làm đối tác liên doanh.





Khách sạn Saigon - Morin hiện nay

Năm 1998 khách sạn mang tên mới “Saigon Morin” và giữ tên này cho tới nay. Hiện khách sạn đạt hàng 4 sao có quy mô 183 phòng, 4 tiệm ăn uống, quán cà phê, nhiều tiệm gift shops. Và từ ngày những người dân Sài gòn vốn giỏi kinh doanh; trực tiếp điều hành và kinh doanh cái khác sạn này, thì khách sạn Saigon – Morin có một bộ mặt mới. Đây là một trong những khách sạn sang trọng và đẹp nhất tại xứ Huế hiện nay./.
ĐKT
24.6.2017
Một số hình ảnh khác về khách sạn Morin




























CÂY CÀ ỔI QUÊ TÔI !

 Trái Cà Ổi .

Đây là một loại cây mà khoa học gọi bằng nhiều cái tên khác nhau; nhưng ở quê tôi gọi là cây Cà ổi, hiện nó mọc đầy thành rừng tại Rú làng tôi (làng Kế Võ, Xã Vinh Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế.) tự bao đời này. Thân cây rất cao và gốc rất lớn có nhiều cây cao tới hơn 30 mét, lá cây xanh tươi quanh năm. Tới mùa ra hoa kết quả và khi chín trái nó rụng đầy Rú làng. Nhưng dân làng không biết làm gì cả, ngoài một số con nít thường nướng chín ăn vài trái cho vui vì nó chẳng có mùi vị gì cả. Và từ bao đời nay đối với người dân làng tôi nó chỉ là một thứ trái vô dụng, không có tác dụng gì cho cuộc sống của người dân quê tôi cả. Công dụng duy nhất của cây cà ổi ở quê tôi là làm hàng cây chắn gió bảo và chắn cát từ biển thổi vào cho ngôi làng; công dụng thứ hai là làm củi đun.
Chỉ sau này lớn lên, rời làng quê đi tha phương thì chúng tôi mới biết là tổ tiên chúng tôi đã bỏ qua một giống cây quý. Mới biết quê mình có một thứ đặc sản quý mà bao đời nay chúng tôi đã bỏ qua một cách phí phạm.


Rừng cà ổi (cây dẻ gai)

Cây cà ổi hay còn gọi là cây dẻ gai (danh pháp: Castanopsis tonkinensis) là một loài thực vật có hoa trong họ Fagaceae. Cây Cà ổi thuộc cây thân gỗ thuộc loại sồi dẻ, lá có răng cưa, mặt dưới phủ sáp, gỗ rắn và bền, hạt ăn được. Quả cà ổi (hạt dẻ) có hình như quả chôm chôm với nhiều gai nhọn.
Tại khu vực miền Trung quả cà ổi chín vào tháng 8-11 âm lịch. Khi chín quả sẽ khô đi, vỏ quăn lại, bong ra, để rơi hạt dẻ bên trong. Cũng có nhiều trái khi chín rơi xuống dính chặt cả hạt.  
Ở miền Trung hầu như tỉnh nào cũng có loại cây này mọc tự nhiên thành rừng kể cả ở những vùng cát ven biển. Là một loại cây chống chịu được gió bão rất tốt nên được trồng làm cây chắn gió và chắn cát. Chỉ mãi tới gần đây, người dân miền Trung mới biết giá trị của trái cà ổi, hạt của loại cây này nếu được chế biến đúng cách là một thứ thực phẩm thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao. 
Hiện nay tại tỉnh Quảng Bình khi giá trị của loại cây này được khẳng định, người dân địa phương đã phục hồi và chăm sóc trở lại nhiều khu rừng toàn loại cây này. Và hiện Quảng Bình là tỉnh có diện tích cây cà ổi nhiều nhất miền Trung, là một loại cây xóa đói giảm nghèo của người dân quê, giúp họ kiếm thêm thu nhập. Khi tới mùa quả chín rụng đầy mặt đất, người dân chỉ cần dùng cành cây nhỏ, gạt lá rụng ở trên mặt đất là thấy chi chít hạt dẻ. Thấy cây nào nhiều hạt mà chưa rụng xuống thì bà con trèo lên rung cây cho hạt rụng.


Hạt dẻ khi chín sẽ tách ra và rơi xuống gốc

Người dân quê nhặt về cân bán cho thương lái, theo giá thị trường tại vùng Quảng Bình hiện nay thì 01 kg khoảng từ 20- 40 ngàn đồng tùy loại to nhỏ, tức là hơn 2 kg gạo.


Người dân đang nhặt hạt dẻ

Hiện nay hạt dẻ có nhiều cách chế biến khác nhau, nhưng chủ yếu là luộc chín sau đó rang lại cho thật khô, nhân chín sẽ có mùi thơm và rất béo, chúng ta ăn cái nhân bên trong hạt rất thơm ngon. Hạt dẻ rang hiện là một món ăn vặt khá cao cấp và không phải là rẻ tại chốn phố thị; nhất là tại các nhà hàng khách sạn cao cấp !

Hạt dẻ rụng đầy gốc

Cách rang hạt dẻ
Sau khi nhặt hạt dẻ về (hoặc mua) các bạn nên thả vào một chậu nước, chọn hạt nào nổi thì vớt bỏ đi; rửa sạch hạt dẻ bằng nước lạnh, sau đó mới tiến hành luộc và rang hạt dẻ.
Để thực hiện cách rang hạt dẻ, trước tiên dùng một chiếc dao mũi nhọn, sắc để khía một đường ngang thân, mục đích là để khi chín, hạt dẻ sẽ nứt vỏ giúp bạn dễ bóc ăn hơn.  
Bạn bỏ hết hạt dẻ vào một nồi nước lạnh, thêm vào đó một chút muối rồi đun sôi. Khi nồi hạt dẻ đã sôi, bạn tiếp tục đun ở lửa vừa trong khoảng 10 – 15 phút nữa cho đến khi hạt dẻ nứt ra và có màu trắng là được.
Sau khi để thật nguội mới tiến hành việc rang hạt dẻ bằng chảo khoảng 15 – 20 phút đến khi hạt nứt hẳn vỏ, nhân có màu vàng và tỏa ra hương thơm đặc trưng là được.
Bạn nên dùng chảo bằng gang hoặc các loại nồi, chảo có đáy dày để rang vì chúng sẽ giúp hạt dẻ nhanh nứt vỏ, chín bở bên trong và thơm ngon hơn. Ngoài ra, trong quá trình rang, bạn cũng có thể cho thêm một ít hạt muối to để giữ nhiệt, giúp cho hạt dẻ nhanh chín hơn. Đấy là một mẹo rất hay trong cách rang hạt dẻ to thơm ngon mà không phải ai cũng biết.

Của trời ban.

Tác dụng của hạt dẻ
Y học cho biết, hạt dẻ là một loại thực phẩm quý, có tác dụng bổ thận, tốt cho tim mạch, ngừa nguy cơ ung thư
Thành phần chủ yếu của hạt dẻ gồm có tinh bột, protein, lipit, các vitamin B1, B2, C và các khoáng chất.
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, trong tất cả các loại hạt, chỉ duy nhất hạt dẻ có chứa vitamin C. Các loại hạt dẻ khô chứa lượng vitamin khá cao. Bên cạnh đó, với thành phần giàu tinh bột nên loại hạt này có khả năng cung cấp nhiều năng lượng cho cơ thể.
Nhờ thành phần dinh dưỡng cao mà hạt dẻ đem lại rất nhiều tác dụng tốt cho sức khỏe. Các nghiên cứu y học đã chứng minh, hạt dẻ có tác dụng trong việc bảo vệ tim mạch. Loại axit béo thuộc họ Omega-3 trong hạt dẻ có tác dụng giúp kháng viêm và bảo vệ tim. Ngoài ra, chất phytosterol được coi là chất giúp giảm sự hấp thu cholesterol vào trong máu.


Hạt dẻ thành phẩm

Hạt dẻ còn có thể được coi là một loại “vũ khí” giúp ngăn ngừa bệnh tiểu đường. Những chế phẩm từ hạt dẻ không những an toàn mà còn tốt cho người huyết áp cao, bệnh nhân đã được thay van tim nhân tạo và những người mắc bệnh tiểu đường.
Ngoài các loại vitamin phổ biến, hạt dẻ còn chứa nhiều loại khoáng chất có tác dụng tăng cường sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật rất hữu ích. Hạt dẻ có chứa hàm lượng mangan cao. Mangan là một trong các chất chống oxy hóa và làm giảm nguy cơ ung thư, bệnh tim.
Còn theo Đông y, hạt dẻ có vị ngọt, tính ấm đi vào 3 kinh tỳ, vị và thận. Có công năng bổ thận ích tinh, làm mạnh gân cốt, tăng cường chức năng tiêu hóa, nuôi dưỡng dạ dày, cầm máu, chữa trị tiêu chảy do tỳ, vị hư hàn hay lưng gối do thận hư…

Hạt dẻ khi chế biến xong

Những lưu ý khi ăn hạt dẻ
Tuy nhiên y học cũng cho biết, mặc dù hạt dẻ ngon và bổ nhưng nếu ăn thường xuyên sẽ gây đầy bụng, khó tiêu. Do thành phần chính của hạt dẻ hầu như không có chất xơ, nên ăn nhiều sẽ gây táo bón. Những người tiêu hoá kém không nên ăn hạt dẻ nhiều dễ làm tổn thương tỳ vị.


Thưởng thức hạt dẻ

Người bị bệnh dạ dày nên hạn chế ăn hạt dẻ vì sẽ sản sinh nhiều axit dạ dày, tăng thêm gánh nặng cho dạ dày, người bị nặng sẽ dẫn đến xuất huyết dạ dày. Người bị cảm chưa khỏi, bệnh nhân mắc chứng sốt rét, kiết lỵ, phụ nữ sau khi sinh không nên ăn nhiều hạt dẻ. Mỗi ngày không nên ăn quá 10 hạt dẻ to để tránh bị táo bón.
Khi ăn hạt dẻ cũng cần chú ý không ăn các loại hạt đã có dấu hiệu mốc hỏng. Khi bóc hạt dẻ nếu thấy màu sắc bên trong thay đổi thì cần phải bỏ ngay.
Trước khi rang hay chế biến món ăn từ hạt dẻ nên lưu ý cần rửa sạch hạt dẻ hoặc bóc vỏ. Không nên rang hạt dẻ đến mức cháy khét vì sẽ làm giảm đi hàm lượng dưỡng chất trong hạt dẻ. Để bảo quản hạt dẻ được tốt nên để chỗ thoáng mát, sạch sẽ, phòng mối mọt.

Món ngon

Mong rằng những người dân quê tôi sẽ sớm biết thưởng thức một món ngon trời ban này của mình. Hiện nay đã có nhiều người dân ở làng tôi đã biết thưởng thức món này, nhưng chỉ với tư thế là ăn cho vui chứ chưa biết công dụng rất quý của nó ./.

ĐKT
25.10.2017

QUÊ NGOẠI !

Tác giả bài viết trước bàn thờ Chi phái họ Đặng bên ngoại

      Trong dịp về dự Lễ Chạp tại quê ngoại vừa qua, khi bà con tập trung về dự lễ Chạp , trong lúc chờ đợi một vài người bà con có hỏi tôi về một số câu chuyện về lịch sử vùng này; qua trao đổi có một người anh bà con bên ngoại đã có lời trách cứ khá nhẹ nhàng, là: “Tôi viết về xứ Huế khá nhiều nhưng chưa thấy viết về quê ngoại, phải chăng là thiếu tình cảm với vùng quê nghèo này…”. Tôi đã xin lỗi người anh và hứa sẽ viết về quê mẹ. Tuy tư liệu về vùng quê này tôi cũng có kha khá, nhất là tư liệu lịch sử … nhưng chọn chủ đề nào để viết cũng là rất khó. Và bài viết nên đăng trên các báo chính thống hay các trang mạng xã hội với tôi tuy cũng không có gì khó khăn cả, nhưng đây là một vấn đề khá tế nhị. Nhưng căng nhất hiện nay là không có thời gian.
     Tuy nhiên bấy lâu nay tôi vốn được bà con bên ngoại khen là một đứa cháu ngoan; vì mâm nào cũng có tôi (tức là nhà ngoại có bất cứ việc gì đều có mặt tôi), nên không thể làm bà con phật lòng được. Nay tranh thủ giữa những giờ nghĩ viết nên bài tự sự ngắn này, nhằm giới thiệu với mọi người về một vùng đất anh hùng – làng Viễn Trình quê ngoại của tôi !

     Quê nội của tôi và quê ngoại – nơi mẹ tôi sinh ra và lớn lên cách nhau một con sông Rào, với chiều dài đôi bờ là khoảng 02km;  sách vở gọi là đầm Hà Trung thuộc hệ thống đầm phá Tam giang – Cầu Hai, nhưng với chúng tôi thuở ấu thơ khi hàng ngày lội xuống đây mò cua (ghẹ) bắt ốc thì chúng tôi chỉ gọi đơn giản là sông Rào. Đây là một vựa tôm cá nước lợ tự nhiên rất lớn mà thiên nhiên đã ban tặng cho người dân quê tôi, nhưng nó cũng vô tình ngăn cách tình cảm, ngăn cách hai thái cực của hai ngôi làng thân thương này của chúng tôi. Quê nội (xã vinh Xuân) là một vùng quê ven biển khá thanh bình, ít bị tác động của chiến tranh; nhưng trái lại quê ngoại (xã Phú Đa) lại là một khu căn cứ địa cách mạng nổi tiếng của tỉnh Thừa Thiên trong hai cuộc kháng chiến vừa qua.


Bản đồ hành chính huyện Phú Vang

    Quê ngoại của tôi là thôn Viễn Trình (thường gọi là làng Viễn Trình), thuộc xã Phú Đa, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Trước năm 1975 đây là một vùng quê nghèo đầy cát trắng, đây là vùng tranh chấp của hai bên, hay thường gọi là vùng đất “ban ngày quốc gia, ban đêm cộng sản”, thường xuyên nổ ra những trận đánh của hai bên. Trong giai đoạn 1966 – 1975 làng quê vắng lặng, bị chiến tranh tàn phá đến tận cùng; đa số người dân phải từ bỏ quê hương vào các tỉnh phía Nam lập nghiệp. Làng xóm chỉ còn lại những người già sinh sống nhưng cũng đều bị lùa vào sống trong những ấp chiến lược. Vào những năm 1973 – 1975 khi về thăm quê ngoại, thì trước mắt tôi là một vùng cát trắng tới lóa mắt và vào buổi trưa nếu không mang giày dép thì ta có thể bị phỏng chân khi dẫm lên cát trắng.

Ảnh vệ tinh khu vực thị trấn Phú Đa

     Tuy nhiên làng Viễn Trình là một ngôi làng có truyền thống đấu tranh cách mạng khá nổi tiếng trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc chống Pháp và chống Mỹ của quân dân tỉnh Thừa Thiên – Huế, hầu hết người dân trong làng đều tham gia hai cuộc kháng chiến này. Cùng với các làng khác trong xã Phú Đa đã được Nhà nước Việt Nam tuyên dương 02 lần danh hiệu  Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
     Sau năm 1975, vùng quê cát trắng này đã có nhiều thay đổi, người dân lưu lạc khắp nơi đã trở về quê sinh sống, làng xóm đã hồi sinh. Thôn Viễn Trình ngày nay, hợp với các thôn Hoà Đa Đông, Hoà Đa Tây, Trường Lưu, Đức Thái, Thanh Lam và Lương Viện hình thành nên xã Phú Đa. Ngay sau khi huyện Phú Vang được tái lập khi tách ra từ huyện Hương Phú, xã Phú đa được chọn làm trung tâm hành chánh của huyện Phú Vang mới. Ngày 30 tháng 5 năm 2011, thị trấn Phú Đa được thành lập trên cơ sở toàn bộ 2,966 ha diện tích tự nhiên và 11.988 người dân của xã Phú Đa.
      Thị trấn Phú Đa nằm ở Trung tâm huyện lỵ Phú Vang, giữa đầm Hà Trung và con sông Đại Giang (một chi lưu của sông Hương), cách thành phố Huế 20 km, cách quốc lộ 1A,  đường sắt Bắc Nam và sân bay quốc tế Phú Bài chỉ hơn 5 km.
     So với các làng chung quanh, làng Viễn Trình được thành lập khá sớm, theo sách Địa Chí tỉnh TT- Huế cho biết làng được thành lập từ những năm đầu thế kỷ 16. Tuy nhiên theo những nghiên cứu của tôi thì đây là ngôi làng được thành lập từ cuộc nhập cư của những cư dân vùng Châu Hoan, châu Ái (tức Thanh Hóa, Nghệ An ngày nay) vào Thuận Hóa từ thời Lê – Mạc (1428-1558). Chính xác là ngôi làng được lập nên vào thời nhà Mạc (1527-1592).
     Cũng xin được điểm lại một chút về lịch sử vùng Thuận Hóa trong giai đoạn hình thành nên ngôi làng này :  
     Từ năm 1306 trở về trước Xứ Thuận Hóa vốn là Châu Ô và Châu Rí của nước Champa (Chiêm thành), sau cuộc ra đi của Công Chúa Trần Huyền Trân về làm dâu Champa, vùng đất này được trở về Đại Việt như là một món quà cưới của Vua Chế Mân nước Champa – Đó là cội nguồn của xứ  Thuận Hóa, mà lúc mới trở về Đại Việt được đặt tên là Châu thuận và Châu Hóa, tới thời nội thuộc nhà Minh được gom lại thành xứ Thuận Hóa. Xứ Thuận Hóa là vùng đất trải dài từ tỉnh Quảng Bình cho tới huyện Điện bàn tỉnh Quảng Nam ngày nay .
     Sau khi trở về Đại Việt năm 1306,  triều đình nhà Trần đã cử Quan binh vào trấn giữ đồng thời di dân Đại Việt vào khai hoang vùng đất mới, nhân cơ hội này cư dân vùng đồng bằng Bắc bộ, vùng trấn Sơn Nam và vùng Thanh – Nghệ đã lũ lượt kéo nhau vào khai hoang xây dựng quê mới, thành lập nên những làng mới, hình thành nên những dòng họ mới. Sự kiện này đã đánh dấu điểm bắt đầu của công cuộc mở mang bờ cỏi về phương Nam kéo dài mấy trăm năm về sau của dân tộc ta . 
       Riêng vùng Thuận Hóa, có bốn cuộc nhập cư lớn. Từ năm 1306 cho tới cuộc chiến tranh cuối cùng giữa Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn năm 1672, các cuộc di dân lúc này chủ yếu là các cuộc di dân từ bắc vào nam. Sau năm 1672, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai lấy sông Gianh làm giới tuyến, các cuộc di dân bị gián đoạn hơn 100 năm cho tới  khi Vua Quang Trung – Nguyễn Huệ đánh tan quân Trịnh thống nhất đất nước năm 1786, các cuộc di dân mới có thể được tiếp tục. Thời kỳ này chứng kiến một hiện tượng là có những cuộc nhập cư ngược từ phía Nam vào Thuận Hóa (Phú Xuân), họ là những người theo đoàn quân của Nguyễn Huệ và Nguyễn Phúc Ánh đến đóng quân ở Kinh Đô Phú Xuân , đã ở lại định cư lập nghiệp ở đây.
    Các cuộc nhập cư lớn vào Thuận Hóa qua các thời kỳ gồm :
        - Cuộc nhập cư thời Trần – Hồ (1307-1428)
        - Cuộc nhập cư thời Lê – Mạc (1428-1558)
        - Cuộc nhập cư thời Trịnh – Nguyễn (1558-1786)
        - Cuộc nhập cư thời Tây Sơn – Nguyễn (1786-1945)
      Vì chủ đề của bài viết là chỉ nhằm giới thiệu về một ngôi làng - làng Viễn Trình nên xin phép là không mở rộng chủ đề ra được, chỉ xin được bàn về công cuộc nhập cư của cư dân phía Bắc vào Thuận Hóa thời Lê – Mạc (1428-1558) và sự hình thành của ngôi làng này.
      Theo sử cũ cho biết, công cuộc Nam tiến của người Việt lúc đầu cũng không được thuận lợi cho lắm. Vì sau khi Công chúa Huyền Trân qua làm dâu nước Chiêm Thảnh chưa tròn 02 năm thì vua Chế Mân chết; theo tục lệ của nước Chiêm các bà vợ vua phải chết theo chồng. Vua Trần Anh Tông thương em đã sai quân đội vào tận kinh thành Đồ Bàn phục kích chờ sẵn nhằm cướp lại em gái. Khi công chúa Huyền Trân sắp bị đưa lên giàng thiêu trên bãi biển thì quân Đại Việt bất ngờ xông tới cướp công chúa khỏi tay người Chiêm Thành, cứu công chúa thoát khỏi cái chết và đưa ra thuyền vượt biển đem về lại Đại Việt. Sau sự kiện này, quân Chiêm Thành lấy cớ đòi lại Châu Thuận và Châu Hóa, đã liên tục tấn công Thuận Hóa chiến tranh xảy ra liên miên. Đỉnh điểm là năm 1377 Vua Trần Duệ Tông thân chinh đem quân chinh phạt Chiêm Thành, trong một cuộc tiến quân đánh chiếm thành Đồ Bàn, Vua Trần Duệ Tông vì mắc mưu trá hàng của địch đã tử trận tại kinh đô Đồ Bàn, quân Đại Việt đại bại. Quân Chiêm Thành đã phản công tiến chiếm lại Châu Thuận, Châu Hóa chiếm luôn Châu Hoan, châu Ái (tức là toàn bộ vùng Thanh - Nghệ - Tỉnh và Bình - Trị - Thiên của Việt Nam hiện nay) suốt 12 năm đồng thời xua đuổi hầu hết người Việt khỏi khu vực này.
      Quân Chămpa thậm chí đã nhiều lần tấn công cướp phá thành Thăng Long, cho đến tháng Giêng năm Canh Ngọ ( 1390 ) - Vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga bị quân Đại Việt bắn chết trong khi tấn công thành Thăng Long quân Chiêm Thành bại trận mới rút khỏi vùng đất này. Thành quả xây dựng gần 100 năm của cư dân vùng Thuận Hóa lại phải bắt đầu lại từ con số không.
      Cho mãi tới cuối thế kỷ 14 cư dân vùng Thuận Hóa mới bắt đầu đông dần lên, nhà Trần đã lập tại vùng đất Hóa Châu 7 huyện mới : Trà Kệ, Lợi Bồng, Sa lệnh, Tư Dung, Bồ Đài, Bồ Lãng và Thế Vinhvới khoảng 40 làng (ấp, thôn, trại, sách)
      Nhưng không lâu sau đó nhà Trần suy vong (năm 1400), nhà Hồ lên thay, nhưng nhà Hồ tồn tại quá ngắn ngủi (1400 – 1407). Vì mất lòng dân - cuộc kháng chiến chống quân Minh của Nhà Hồ bị thất bại, năm 1407 cha con Hồ Quý Ly bị bắt giải về Kim lăng; nước ta bị giặc Minh chiếm đóng trong hơn 20 năm. Trong thời gian Đại Việt bị quân Minh đô hộ, lợi dụng việc này quân Chiêm Thành đã tiến chiếm lại vùng Thuận Hóa và 2 châu Chiêm Động, Cổ Luỹ (Quảng Nam, Quảng Ngãi).
     Cho đến năm Mậu Thân(1428), cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi giành thắng lợi hoàn toàn, đất nước mới trở lại thời tự chủ.
      Sau chiến thắng giặc Minh (1428), Vua Lê Thái Tổ đã cử quan quân vào lấy lại Thuận Hóa và cử các trọng thần vào trấn thủ, tổ chức ổn định đời sống nhân dân, tăng cường di dân, khai hoang phục hóa, thành lập các làng xã mới. Nhưng tình hình Thuận Hóa không ổn định, quân Chiêm Thành nhiều lần tấn công châu Hóa. Sau khi nhà Hậu Lê tiếp quản Thuận Hóa, quân Chiêm Thành đã liên tục quấy nhiễu khiến cho cư dân vùng này không thể an cư được. Nhất là sau khi vua Lê Thái Tổ băng hà (1434), quân Chiêm Thành lại nhiều lần vượt đèo Hải Vân tấn công châu Hóa. Năm 1446 vua Lê Nhân Tông cử đại quân chủ động tấn công quân Chiêm Thành, đẩy lui quân Chiêm ra khỏi xứ Thuận Hóa giữ yên bờ cõi.
     Năm 1469, quân Chiêm Thành lại khởi sự chiến dịch quấy phá Hóa Châu, tháng 9/1470, vua Chiêm Thành là Bàn Trà Toàn đã huy động 10 vạn quân và voi ngựa tiến đánh châu Hóa. Cuối năm đó vua Lê Thánh Tông ngự giá thân chinh đánh Chiêm Thành. Sau nhiều trận giao tranh, quân Chiêm tan vỡ, vua Lê Thánh Tông đã đưa quân đánh vào tận kinh đô Bồ Đàn, chiếm kinh đô của Chiêm Thành, bắt sống vua Chiêm là Bàn Trà Toàn đem theo về Đại Việt.
    Sau chiến thắng Đồ Bàn - năm 1471 của quân dân Đại Việt, chiến dịch bình định phương Nam dưới quyền Tiết chế của vua Lê Thánh Tông thắng lợi hoàn toàn. Đã chấm dứt mối đe dọa xâm lấn Hóa Châu của người Chăm pa, cương giới nước Đại Việt đã vào tận tận đèo Cù Mông phía Nam tỉnh Bình Định ngày nay, vùng đất Thuận Hóa không còn là vùng đất biên cương nữa .
     Chỉ sau chiến thắng lịch sử này(1471), nhân dân vùng Thuận Hóa - mới thực sự được hưởng thanh bình, ổn định liên tục trong nhiều năm sau. Nhân dân vùng này, có được một khoản thời gian hơn 50 năm thanh bình đã ra sức khôi phục và tái thiết quê hương, khôi phục lại các làng xóm bị tàn phá, nhân dân lưu tán do chiến tranh. Hưởng ứng chủ trương di dân, nhân dân các vùng đồng bằng sông Hồng, vùng trấn Sơn Nam và các Châu Hoan, Ái (tức là Thanh Hoá và Nghệ An ngày nay) cùng một số quan quân Nam chinh trở về đã đem gia đình và bà con vào khai khẩn đất hoang, hàng loạt các làng - xã đã được thành lập vào thời gian này trên vùng đất này.
      Đây là giai đoạn khởi thủy chính thức của các làng – xã cổ nhất, các tộc Họ lâu đời nhất tại Hóa Châu (Thừa Thiên – Huế ngày nay). Trước thời điểm này (cụ thể là trước năm 1446), tại Hóa Châu không thể có một làng – xã nào được định danh và có được địa bàn cư trú cụ thể cả.
       Nhân dân vùng Thuận Hóa thoát khỏi nạn chiến tranh đã dần đi đến ổn định và bắt đầu giai đoạn phát triển, quá trình di dân từ phía Bắc vào Thuận Hóa được tiếp tục. Hàng loạt các ngôi làng mới được thành lập trong dịp này, như : Duy sơn, Tân chu, Nghi giang, Diêm trường, Phụng chánh, Cự lại, Kế chủng (Kế sung), Thái dương, Hòa duân, Hà cùng (An dương), Triều sơn, Thanh cần, La Khê, Bao vinh, Đức bưu, Dương Xuân, Phổ Lại, Đại Lộc , Kế Môn, Phò Trạch, Hương Triền (Thanh Hương), Đàm bổng(Ưu Điềm) ….
     Năm Bính Tuất (1466) Vua Lê Thánh Tông tổ chức cải cách hành chánh tổ chức đặt 13 đạo Thừa Tuyên trong cả nước, xứ Thuận Hóa được gọi là Thừa Tuyên Thuận Hóa, gồm có hai phủ là Phủ Tân Bình và Phủ Triệu Phong. Ba huyện Kim trà, Đan Điền và Tư Vinh nằm trong phủ Triệu Phong là toàn bộ diện tích tỉnh Thừa Thiên – Huế hiện nay.
      Cuối thời nhà Lê (1527), miền Bắc lại lâm vào giai đoạn bất ổn, triều đình bị phân chia bè phái, tranh chấp nhau, khiến cho xã hội loạn lạc, sản xuất đình đốn vì chiến tranh liên miên. Trái lại vùng Thuận Hóa lại bình yên, nên nhân dân ở đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Nghệ đã dắt díu nhau di cư vào Thuận Hóa mục đích là tìm nơi yên ổn để làm ăn sinh sống , xây dựng quê mới. Đây là đợt di cư tự phát nhưng rất đông đảo.
       Lại nói một chút về địa giới thành chánh và việc tách nhập của ngôi làng Viễn Trình và xã Phú Đa từ khi được thành lập cho tới nay. Theo đó từ tháng sáu năm Bính Tuất, Quang Thuận thứ 7(1466) nhà Hậu Lê (Lê Sơ) bắt đầu cải tổ hành chánh, vua Lê Thánh Tông đổi Lộ thành Phủ, đổi Trấn thành Châu. Lúc này xứ Thuận Hoá gồm 02 Phủ, 07 Huyện và 04 Châu, trong đó Phủ Triệu Phong gồm có 05 Huyện là: Hải Lăng, Vũ Xương, Đan Điền, Kim Trà và Tư Vinh.
       Ba huyện Kim Trà (Hương Trà), huyện Đan Điền (Quảng Điền) và huyện Phú Vinh (Phú Vang) thuộc Phủ Triệu Phong là toàn bộ vùng đất địa giới hành chính của tỉnh Thừa Thiên - Huế ngày nay.
     Vào những thập kỷ nữa đầu thế kỷ 16, dân cư vùng Hóa Châu (tức tỉnh Thừa Thiên) còn thưa thớt, cấp hành chánh cấp tổng chưa có, trong danh sách các làng thuộc huyện Kim Trà lúc ấy đã thấy có tên làng Viễn Trình và làng Lương Viện; huyện Phú Vinh có làng Hà Đá (tức Hòa Đa Đông và Hòa Đa Tây) là 03 ngôi làng duy nhất của thị trấn Phú Đa được thành lập trước năm 1555 và có tên trong sử sách trước mốc thời gian này.
      Để kiểm tra lại tư liệu này, tôi đã tìm đọc tác phẩm Châu ô cận lục (Hán tự: 烏州近錄, có nghĩa là "ghi chép về Ô Châu gần đây") do học giả Dương Văn An (楊文安) (1514 –1591) viết từ năm 1553, sửa chữa và ấn hành vào năm 1555, dưới triều vua Mạc Tuyên Tông. Đây là một cuốn sách Địa lý (chí) viết về một dãi đất từ Quãng Bình đến Bắc Quãng Nam vào nửa đầu thế kỷ XVI dưới thời Lê – Mạc, rất chi tiết và cụ thể.
      Đây là cuốn địa phương chí quan trọng đầu tiên viết về vùng đất Thuận Hóa của nước Việt chúng ta ở thế kỷ XVI. Đây là một tác phẩm khoa học có giá trị văn học lớn. Tuy biết rằng trước đó trong cuốn sách Dư địa chí (Hán tự : 輿地誌) (1435), Nguyễn Trãi đã có viết về vùng đất Thuận Hóa khá chi tiết. Đây đồng thời cũng chính là tác phẩm "điạ lý học lịch sử" đầu tiên của Việt Nam; nhưng xét về mặt địa phương chí và lịch sử vùng Thuận Hóa thì tác phẩm "Ô Châu Cận Lục" mới chính là cuốn sách quý giá nhất. Nó có giá trị cực kỳ lớn lao với tất cả các nhà nghiên cứu sử cũng như mọi từng lớp cư dân xứ Thuận Hóa từ xưa đến nay.
      Theo tự sự của chính tác giả trong lời bạt của cuốn sách thì ông viết hoàn chỉnh cuốn sách Châu ô cận lục vào niên hiệu Cảnh Lịch thời nhà Mạc - ngày rằm tháng sáu năm Ất Mão (1555). Khi đang giữ chức Đô cấp sự Trung lại Khoa, tước Sùng Nham Bá, trong lúc đang về cư tang ở quê nhà.
      Theo tác giả thì nhân dịp về cư tang ở quê nhà lúc ông 40 tuổi (năm 1553), trong ba năm rảnh rỗi ấy đã được dùng vào việc "đọc khắp các loại sách", ông đã gặp được hai bản chép tay của hai nho sinh đồng hương viết về hình thế sông núi, sản vật, phong tục tập quán và các nhân vật nổi tiếng ở hai phủ Tân Bình và Triệu Phong. Ông liền khảo cứu thêm và bổ sung cũng như lược bớt những chỗ rườm rà và đặt tên mới là Ô Châu Cận Lục, thành một tác phẩm địa phương chí hoàn chỉnh. Công trình của ông hoàn tất vào năm 1555 và giá trị lịch sử của nó đã được khẳng định qua hàng trăm năm sau , đến cho cả ngày nay.
     Công trình địa phương chí nầy gồm sáu quyển :
       - Quyển một, giới thiệu mô tả núi sông xứ Thuận Hóa
       - Quyển hai, nói về sản vật xứ Thuận Hóa: thổ sản, lâm sản, hải sản, hoa trái chim muông, cầm thú.
       - Quyển ba, có tên là : Bản đồ, liệt kê danh mục các phủ huyện, châu, xã , làng  xứ Thuận hóa, và bàn về phong hóa xứ Thuận Hóa. Đây là quyển quan trọng nhất.
     - Quyển bốn, nói về thành thị xứ Thuận Hóa, liệt kê, mô tả thành, chợ, trạm, bến bờ.
       - Quyển năm, giới thiệu, mô tả các thắng cảnh, chùa tháp, đền miếu xứ Thuận Hóa.
      - Quyển sáu, bàn về chế độ quan chức xứ Thuận Hóa và ghi chép tiểu sử của 102 nhân vật quê ở Thuận hóa từ đầu thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVI : những người đỗ đạt cao, quan văn, quan võ, những người trung nghĩa, tiết hạnh… tất cả được miêu tả rất chi tiết và có địa chỉ cụ thể.
     Qua nghiên cứu từ quyển 3 và quyển 4 của tác phẩm Ô châu Cận Lục cho thấy làng Viễn Trình đã được liệt kê trong cuốn sách này, cùng với làng Viễn Trình là làng Lương Viện và làng Hòa Đa là 03 ngôi làng duy nhất thuộc thị trấn Phú Đa ngày nay được liệt kê trong cuốn sách Địa chí này ngay từ năm 1555.
    Lúc này (năm 1555) làng có cái tên là làng Viễn Trình, thuộc huyện Kim Trà (Hương Trà), phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hóa. Vẫn thuộc quyền cai quản của triều đình nhà Mạc.
    Cũng xin lưu ý với quý độc giả là tuy trước năm 1540 Nguyễn Kim đã khôi phục lại nhà Hậu Lê (gọi là Lê Trung hưng) tại nước Ai Lao. Sau khi chiêu tập được một số các cựu thần trung thành với nhà Lê tại nước Ai Lao, năm Canh tý (1540) ông đã kéo quân từ Ai Lao về chiếm thành Nghệ An từ tay nhà Mạc, năm Nhân Dần (1542) chiếm lại thành Tây Đô (Thanh hóa). Biến vùng Thanh - Nghệ thành một căn cứ địa của các cựu thần nhà Lê trong công cuộc phục hồi lại nhà Hậu Lê sau này. Nhưng vùng đất từ Hà Tĩnh vào Nam vẫn do quan quân nhà Mạc cai quản, mà tác giả của Ô Châu Cận Lục - Dương Văn An vẫn là một trung thần của nhà Mạc.
     Mãi tới sau năm 1558, vùng châu Hóa mới bị Nguyễn Hoàng chiếm lại từ tay quan quân nhà Mạc. Kể từ khi vào Nam trấn thủ vùng đất này, Nguyễn Hoàng đã cùng con cháu các đời Chúa Nguyễn xây dựng Thuận Hóa và vùng đất phía Nam thành một vương quốc Nguyễn riêng ở xứ Đàng Trong; độc lập và tách biệt hoàn toàn với xứ Đàng Ngoài của vua Lê – Chúa Trịnh.
    Năm 1571 nhằm ổn định lại hành chánh ông đã đổi tên một số huyện, riêng huyện Đan Điền, Kim Trà và Tư Vinh được đổi thành Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vinh (sau đọc trại thành Phú Vang)
    Năm 1604, Nguyễn Hoàng đã cắt huyện Điện Bàn thuộc trấn Thuận Hóa, nâng lên thành phủ, sáp nhập vào trấn Quảng Nam. Thuận Hóa dưới thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII- XVIII) chỉ còn là vùng đất trải dài từ phía nam đèo Ngang cho tới đèo Hải Vân.
     Theo ghi chép trong sách  Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, xứ Thuận Hóa giai đọan trước năm 1776, gồm: 2 phủ là Triệu Phong và Quảng Bình, được phân thành 8 huyện và 1 châu. 
      Phủ Triệu Phong, gồm có 5 huyện :
      1/ Huyện Hương Trà (nay thuộc Thừa thiên – Huế), gồm 9 tổng:
- An Ninh - Phú Xuân - Vĩnh Xương - Phù Trạch - An Hòa - Vĩ Dạ - Kim Long - An Vân
- Kế Thực (hay Kế Mỹ).
Trong đó tổng Kế Thực gồm có 12 xã (làng), 1 thôn , 9 phường: các xã Kế Thực, Bình Trị, Thái Dương Thượng, Thái Dương Hạ, Hòa Duân, Quảng Xuyên, Lương Viện, An Dương, Kế Đăng(Kế võ), Cự Lại, Ba Lăng, Viễn Trình ; thôn Hoa Lộc ; các phường : Hà Thanh, Mai Lộc, Đường Dã, Tân Xa, Hoa Dương, Hà Hồng, Hoa Diên, Khánh Mỹ, Diêm Tụ.
      Như vậy tên các làng thuộc xã Phú Đa hiện nay như Viễn Trình, Lương Viện vào giai đoạn trước năm 1776 là thuộc Tổng Kế Mỹ, huyện Hương Trà như Sách Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn đã ghi chép. 
     Huyện Hương Trà trước có tên là Kim Trà. Phủ chúa Nguyễn, thời Nguyễn Phúc Lan được dời từ Ái Tử về xã Kim Long tổng Kim Long huyện Hương Trà. Đến đời chúa Nguyễn Phúc Thái lại dời đến xã Phú Xuân, tổng Phú Xuân, huyện Hương Trà.
     2/ Huyện Phú Vang (nay thuộc Thừa Thiên-Huế), gồm 6 tổng: Mậu Tài, Dương Nỗ, Đường Pha, Dã Lê, Sư lỗ, Diêm Trường.
      3/ Huyện Quảng Điền (nay thuộc Thừa Thiên-Huế), gồm 8 tổng: Hoa Lang, Phù Lê, Yên
Thành, Hạ Lang, Đông Lâm, Phúc An, Phú Ninh, Phú Ốc.
      4/ Huyện Hải Lăng (nay thuộc Quảng Trị), gồm 5 tổng: Hoa La, An Thư, An Dã, Câu Hoan, An Khang.
      5/ Huyện Đăng Xương (nay thuộc Quảng Trị), gồm 5 tổng: An Phúc, An Lưu, An Cư, An Đôn.
      Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, vào đầu thời nhà Nguyễn, Thuận Hóa vẫn gồm 2 phủ Triệu Phong và Quảng Bình, nhưng có mở rộng địa giới hành chánh về phía Tây hơn so với thời chúa Nguyễn .
      1/ Phủ Triệu Phong, gồm 5 huyện nhưng có thêm 2 châu: các huyện Quảng Điền (Đan Điền), Hương Trà (Kim Trà), Phú Vang (Phú Vinh), Hải Lăng, Đăng Xương (Vũ Xương); 2 châu Thuận Bình và Sa Bôi .
       2/  Phủ Quảng Bình gồm 2 huyện và 2 châu: huyện Khang Lộc, huyện Lệ Thủy, châu Minh Linh (Vĩnh Linh), châu Bố Chính (Nam Bố Chính – hay Bố chính Nội tức Bố Trạch ngày nay), Bắc Bố Chính (Bố Chính Ngoại tức Quảng Trạch ngày nay), mở rộng hơn ra bắc sông Gianh so với thời chúa Nguyễn.
      Ngày 03 tháng 5 năm Tân Dậu (15/06/1801) Nguyễn Ánh chiếm lại Phú Xuân, tới tháng 8 ông lấy 3 huyện Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vinh đặt làm dinh Quảng Đức. Tháng Chạp năm Nhâm Ngọ (đầu năm 1823), đổi dinh Quãng Đức làm phủ Thừa Thiên. Tháng chạp năm Giáp Ngọ (Minh Mệnh thứ 15 - đầu năm 1835), đặt thêm 3 huyện ở Thừa Thiên là : Phong Điền, Hương Thũy, Phú Lộc (chia tách ra từ 3 huyện cũ là Quảng Điền, Hương Trà và Phú Vinh) ; phủ Thừa Thiên lúc này có 6 huyện.
     Trước thời nhà Nguyễn (1802), những ngôi làng nằm dọc theo hai bên bờ sông Hương và vùng đầm phá phía Nam tỉnh đều thuộc huyện Kim Trà (Hương Trà). Nhưng sau khi nhà Nguyễn thành lập thêm 03 huyện mới, các ngôi làng thuộc vùng đầm phá phía Nam thuộc tổng Diêm Trường được cắt giao cho huyện Phú Lộc mới. Phần các làng còn lại nằm dọc hai bên bờ đầm phá kéo dài từ làng Diêm Tụ - Hà Thanh trở lên làng Thái Dương (Thuận An) thuộc tổng Kế Mỹ (trong đó có làng Viễn Trình và Lương Viện) được cắt giao về cho huyện Phú Vinh (tức Phú Vang) từ sau năm 1802. Và làng Viễn Trình thuộc về huyện Phú Vang từ đó.
    Huyện Phú Vinh (Phú Vang) mới chỉ còn có 6 tổng: Quảng Xuyên, Sư Lỗ, Kế Mỹ, Mậu Tài, Dương Nổ và Ngọc Anh. Các làng Hoà Đa Đông, Hoà Đa Tây, Trường Lưu, Đức Thái, Thanh Lam – thuộc tổng Sư Lỗ; các làng Viễn Trình, Lương Viện thuộc tổng Quảng Xuyên dưới thời nhà Nguyễn.
    Dưới thời chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, ngày 17/05/1958, chính quyền VNCH ra Nghị định số 214 – HC/PC/NĐ ấn định các đơn vị Hành chánh mới của tỉnh Thừa Thiên gồm 9 Quận : Phong Điền, Quảng điền, Hương Trà, Hương Thũy, Phú Vang, Phú Lộc, Vinh Lộc, Hương Điền, Nam Hòa, và 3 tổng Nguồn Bửu, Nguồn Rả, Nguồn Bồ.
      Năm 1962, nhằm sắp xếp lại các cấp hành chánh; chính quyền Việt Nam Cộng Hòa loại bỏ cấp Tổng, gom nhiều thôn, xã, phường cũ có diện tích nhỏ và dân số ít lại thành một xã mới (các xã, phường lớn vẫn duy trì). Các xã, phường cũ này được gọi theo đơn vị hành chánh mới là thôn (hoặc ấp).
       Ngày 31-7-1962: Chính quyền Sài Gòn ra Nghị định số 805-NV, thành lập cơ sở phái viên hành chánh Phú Thứ, trụ sở đặt tại xã Vinh Thái, quận Phú Vang. Đến ngày 14-4-1965, lại ban hành Nghị định số 599-NV cải biến cơ sở phái viên hành chánh Phú Thứ thành quận Phú Thứ, gồm 7 xã: Phú Hồ, Phú Xuân, Phú Đa, Phú Lương, Vinh Phú, Vinh Thái và Vinh Hà. Quận lỵ của quận Phú Thứ đặt tại làng Hòa Đa (xã Phú Đa), quận Phú Thứ tồn tại cho tới sau năm 1975 mới bị giải thể.
      Về phía chính quyền cách mạng, kể từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, các thôn (làng) của xã Phú Đa liên tục thay đổi tên gọi và tách ghép nhiều lần để phù hợp với yêu cầu lịch sử. Năm 1946, xã Phú Đa được tách làm 2 xã Phú Thứ (gồm  thôn Đức Thái, Lương Viện, Viễn Trình) và xã Phú Thuận (gồm thôn Vĩnh Lưu, Hoà Đông, Hoà Tây, Nam Châu). Sau đó, 2 xã Phú Thứ và Phú Thuận hợp thành xã Phú Thạnh với 7 thôn. Năm 1955, để phù hợp với cuộc kháng chiến chống Mỹ, xã Phú Thạnh đổi thành Phú Đa cho đến ngày nay.

      Thay lời kết:  
     Như trên tôi đã trình bày, tại khu vực xứ Thuận Hóa (tức là vùng đất từ phía Nam Sông Gianh, nay thuộc tỉnh Quảng Bình cho tới huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam ngày nay); khi muốn tìm kiếm về nguồn gốc của các ngôi làng trong giai đoạn 1302 - 1802, thì ngoài nguồn sử liệu của chính những người dân trong các ngôi làng đấy đang lưu giữ được cung cấp. Các nhà nghiên cứu sử còn phải dựa vào rất nhiều nguồn tư liệu và thông tin khác nhau nhằm xác lập nên một sự kiện. Tuy nhiên, để bảo đảm tính chính xác của sử liệu và hệ thống hóa lại các sự kiện họ đều phải dựa vào 03 cuốn chính sử sau :
       - Dư địa chí, của Nguyễn Trãi, viết vào năm 1435, thời nhà Hậu Lê (Lê sơ).
       - Ô Châu Cận Lục, của Dương Văn An, viết năm 1555, thời nhà Mạc.
        - Phủ biên tạp lục, của Lê Quý Đôn, viết năm 1776, thời nhà Lê - Trịnh.
        Ba cuốn chính sử này là 03 cuốn Dư Địa Chí chính thống của các nhà nước phong kiến thời ấy phát hành như một tài liệu chính thức của nhà nước. Trong 03 cuốn sách này thì ngoài những ghi chép tổng quát và toàn cảnh về những sự kiện lịch sử, văn hóa và địa lý xảy ra trong vùng. Các tác giả cũng đã liệt kê danh sách tất cả các ngôi làng trong từng thời kỳ, có ghi chép khá đầy đủ về lai lịch các ngôi làng trong từng tổng, từng huyện của xứ Thuận hóa. Sách ghi chép chi tiết năm thành lập, số nhân khẩu, số diện tích ruộng đất, số suất đinh của từng làng. Thậm chí ghi chép các sự kiện văn hóa lịch sử lớn xảy ra trong làng, việc tranh chấp kiện tụng trong làng, một vài nhân vật nổi tiếng, đặc sản nổi bật của làng ... . Ngoài ra 03 cuốn sách này được viết và phát hành ra tương ứng với 03 giai đoạn lịch sử hình thành và phát triển nổi bật nhất của vùng đất này. 
       Bất cứ nhà nghiên cứu sử nào khi muốn nghiên cứu về vùng đất này đều phải lấy tư liệu từ 03 cuốn sách này làm nòng cốt cho công trình nghiên cứu của mình. Tuy biết rằng sau khi nhà Nguyễn được thành lập (1802), sau đó Quốc sử quán triều Nguyễn ra đời (1825) đã hệ thống hóa lại lịch sử đất nước trong tất cả các thời kỳ một cách chi tiết, khoa học và đã viết thành hàng ngàn cuốn sách sử ký lưu lại cho tới nay. Nhưng khi viết về lịch sử xứ Thuận Hóa giai đoạn 1302 -1802, Quốc sử quán triều Nguyễn cũng phải căn cứ vào 03 cuốn sách "Lịch sử - Địa chí" nói trên đây. Vì đây mới là những cuốn sách "Địa chí" ghi chép từ thực tế lịch sử trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể !
      Cho nên, trong những bài viết và những công trình nghiên cứu về lịch sử xứ Thuận Hóa (hay tỉnh TT- Huế) của mình, khi muốn bảo đảm tính chính xác tôi thường phải căn cứ vào 03 nguồn sử liệu trên đây. Kể cả bài viết ngắn về lai lịch ngôi làng ngôi làng Viễn Trình này !
     Theo đó, ngoài yếu tố văn hóa lịch sử là một ngôi làng cổ với gần 500 năm tuổi. Làng Viễn Trình nói riêng và xã Phú Đa nói chung là một xã vùng đồng bằng. Ngôi làng tuy được bao bọc bởi hệ thống đầm phá và con sông Đại Giang, nhưng lại có hệ thống đường bộ dọc ngang khá hoàn chỉnh; nó được xem như là trung tâm của vùng đồng bằng phía Nam của tỉnh TT- Huế.  Hơn nữa nó chỉ cách thành phố Huế khoảng 20 km về phía Đông Nam, cách quốc lộ 1A, cách đường sắt Bắc - Nam, cách cảng hàng không quốc tế Phú Bài chỉ khoảng 5km.  Cho nên từ xưa vùng đất này đã có một vị trí chiến lược khá quan trọng về quân sự và chính trị ở phía Nam của tỉnh qua các thời kỳ lịch sử. Trong hai cuộc kháng chiến vừa qua xã Phú Đa đã là một căn cứ địa cách mạng quan trọng của tỉnh TT - Huế. 
     Với truyền thống yêu nước, ngay từ những ngày đầu khai thiên lập địa trên mảnh đất này, nhân dân làng Viễn Trình nói riêng và xã Phú Đa nói chung đã cùng với nhân dân Thuận Hoá đóng góp nhiều sức người sức người và sức của cho công cuộc bảo vệ đất nước.
    Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nơi đây thường xảy ra những trận đánh của hai bên và nhân dân xã Phú Đa đã giành được nhiều thắng lợi, nhất là chiến thắng trận Thanh Lam Bồ (vào năm 1951) đã thể hiện sự lớn mạnh của quân và dân địa phương. Với những thành tích đã đạt được, Đảng bộ và nhân dân Phú Đa được huyện tặng cờ luân lưu và được tỉnh Đội Thừa Thiên khen thưởng về thành tích xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.
      Có thể nói Phú Đa trước đây là vùng căn cứ cách mạng nổi tiếng của huyện, của tỉnh. Đây là nơi cơ quan Huyện uỷ Phú Vang làm việc, trụ sở chỉ đạo cách mạng phía Nam của tỉnh, của thành uỷ Huế trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Là hậu phương kháng chiến, là một trong những cơ sở hậu cần của bộ đội, là địa bàn hành lang, là trạm liên lạc của 3 vùng chiến lược.
      Ngày nay, thị trấn Phú Đa là trung tâm của vùng đồng bằng phía Nam của tỉnh, một đầu mối giao thông quan trọng; được quy hoạch thành một khu thị tứ, một khu đô thị mới. Thị trấn có diện tích 2.966 ha và gần 13 ngàn nhân khẩu; là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hoá của huyện Phú Vang. Nơi đây đã có một khu công nghiệp Phú Thứ, có trung tâm nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Nơi được đầu tư để phát triển dịch vụ, đào tạo nghề và các ngành kinh tế hỗ trợ phát triển biển và đầm phá của huyện Phú Vang.
     Hy vọng rằng với quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thị trấn Phú Đa; mai này vùng đất đầy truyền thống cách mạng này sẽ vượt qua đói nghèo vươn lên ngang tầm với các trung tâm hành chánh khác trong tỉnh. Người dân Viễn Trình - Phú Đa sẽ làm giàu được trên chính quê hương mình ./. 

ĐKT
17.10.2017

Một số hình ảnh về Lễ Chạp tại Chi Phái họ Đặng ngày 9/10/2017 vừa qua .





















Vì sao người quân tử không tranh cãi với kẻ tiểu nhân?

Không tranh cãi với kẻ tiểu nhân Khổng Tử có một cậu học trò rất thích tranh luận. Một hôm, người học trò này đến thăm Khổng Tử t...