Xâm lược hay Giải phóng: Từ góc nhìn công pháp quốc tế !

Ảnh: Uỷ ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định tổ chức họp báo quốc tế ngày 8/5/1975. 
Nguồn: Herve GLOAGUEN/Gamma-Rapho via Getty Images.


Một cách khách quan, để nhận định một cuộc chiến diễn ra dưới cơ chế là một cuộc xung đột nội địa hay quốc tế, trước tiên phải xác định được danh nghĩa pháp lý của các bên tham gia, mà cụ thể hơn, họ có được xem là quốc gia (“state”) theo quy định của pháp luật quốc tế hay không?

Ảnh: Vĩ tuyến 17 chia cắt Việt Nam làm hai miền. Ảnh: BBC.

Sự công nhận của cộng đồng quốc tế không quan trọng?

Pháp luật quốc tế vẫn chưa có một định nghĩa hay tiêu chuẩn chính thức để xác định danh tính quốc gia. Cho đến nay, quốc gia, các tổ chức và các học giả quốc tế đều dựa vào 4 tiêu chuẩn từ Điều ước Montevideo về Quyền và trách nhiệm của Quốc gia, ký kết vào năm 1933.
Đây vốn chỉ là một điều ước khu vực giữa các quốc gia thuộc Châu Mỹ lục địa. Tuy nhiên, theo cân nhắc của nhiều học giả, các tổ chức học thuật có thẩm quyền (như International Law Association hay International Law Commission) và thực hành của nhiều quốc gia khác nhau; bốn tiêu chuẩn này thật sự chỉ pháp điển hoá tập quán pháp quốc tế. Vì vậy, chúng được xem là căn cứ hợp pháp để xác định tư cách quốc gia.
Bốn tiêu chuẩn được ghi nhận gồm:
1) Lãnh thổ xác định.
2) Dân cư xác định (cả hai tiêu chuẩn này không cần thiết phải tuân thủ theo một số lượng cụ thể).
3) Chính phủ có năng lực kiểm soát hiệu quả.
4) Năng lực tham gia vào điều ước với quốc gia khác.

Có ba điểm cần chú ý trong bộ tiêu chuẩn nói trên.

Một là, khái niệm dân cư không đồng nghĩa với việc nó phải thuộc một nhóm dân tộc, màu da hay tôn giáo nhất định. Theo đó, một quốc gia không nhất thiết chỉ có dân cư thuộc một nhóm dân tộc, màu da hay tôn giáo. Ngược lại, không nhất thiết hai nhóm dân cư cùng thuộc một dân tộc, màu da hay tôn giáo thì phải cùng một quốc gia với nhau.
Hai là, dù chính phủ có năng lực kiểm soát hiệu quả có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hình thành quốc gia, điều này không nên được hiểu đồng nghĩa với việc chính phủ, chính quyền đương thời tương đồng với sự tồn tại của chính quốc gia đó. Ta có thể hiểu rõ hơn vấn đề này thông qua vài ví dụ như Somalia, Palestine, và Đài Loan.
Somalia tính cho đến nay, có thể đã được xem là “failed state” – “một quốc gia thất bại”, nơi mà chính quyền trung ương biến mất (hoặc không đủ năng lực kiểm soát quốc gia) và được thay thế bởi chủ nghĩa bộ tộc và lãnh chúa địa phương. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là quốc gia Somalia không còn tồn tại và ai cũng có thể xâm chiếm vùng lãnh thổ nói trên.
Tương tự, có thể nói rằng Palestine vẫn chưa có được một chính phủ hiệu quả thống nhất lãnh đạo. Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) được xem là một đại diện lý tưởng cho Palestine, nhưng tranh chấp bạo lực giữa các phe phái như Hamas hay Fatah vẫn còn đó. Mặc dù vậy, việc không có một chính phủ hiệu quả đại diện cho nhóm dân cư này cũng không đồng nghĩa với việc quốc gia Palestine không tồn tại.
Đài Loan, xét mọi mặt, ở một mức độ mạnh mẽ và rõ ràng hơn, có thể xem là một quốc gia độc lập – đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của Montevideo. Tuy nhiên, Đài Loan cũng đang đẩy mình vào thế khó theo mặt pháp lý,  tương đương với miền Nam Việt Nam mà bài viết sẽ phân tích ở phần sau.
Ba là, dù yêu cầu thứ tư có nhắc đến việc tham gia vào điều ước quốc tế với quốc gia khác, điều này không đồng nghĩa với việc chính phủ đó phải được cộng đồng quốc tế công nhận. Yêu cầu này nhằm nói đến quyền hạn và năng lực thực thi điều ước nếu được ký kết, không phải nhằm ám chỉ rằng quốc gia đó phải được cộng đồng quốc tế chấp nhận. Hiển nhiên, điều này cũng chỉ mang tính tương đối.
Nhiều học giả đã và đang cân nhắc sức nặng của yếu tố cộng đồng quốc tế, hay cụ thể nhất là việc được tiếp nhận trở thành thành viên của Liên Hiệp Quốc (United Nations – UN). Trên thực tế, được UN hay các cường quốc công nhận là một bước đệm quan trọng, nhưng sự đồng thuận chung của cộng đồng học thuật thế giới và các tổ chức học thuật có thẩm quyền thì đây không phải, và không nên là một yêu cầu bắt  buộc.

Một dân tộc – hai quốc gia? Khả dĩ.

Với những thông tin như trên, chúng ta có thể tập hợp lại và tạo nên một bức tranh chung về “statehood” của hai miền Nam Bắc Việt Nam.
Trước tiên, có đủ căn cứ và cơ sở để cho rằng tồn tại hai quốc gia tách biệt trên lãnh thổ Việt Nam từ năm 1955 cho đến năm 1975.
Cả hai quốc gia đều có lãnh thổ và dân cư xác định, có chính phủ có năng lực kiểm soát hiệu quả; đều từng tham gia vào các hiệp ước, hiệp định quốc tế.
Vì vậy, dù chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và các đồng minh có tuyên bố chính phủ Việt Nam Cộng hòa là ngụy quân, ngụy quyền, bù nhìn của Mỹ; hay ngược lại, dù chính quyền Việt Nam Cộng hòa có lên án chính quyền miền Bắc là quân cờ của Cộng sản, quên lịch sử cha ông… thì cũng không làm thay đổi danh tính pháp lý của họ theo quy chuẩn pháp luật quốc tế.

Tuy nhiên, cách nhìn nhận này cũng không hẳn là hoàn toàn không có kẽ hở.

Đầu tiên, cả hai quốc gia đều cho rằng mình là đại diện hợp pháp cho toàn Việt Nam; tương tự  như vấn đề “Một Trung Quốc ” (One China) giữa Đài Loan và Trung Quốc hiện tại. Điều này cũng đồng nghĩa với việc tranh chấp hai miền mang dáng dấp của một cuộc nội chiến hơn là tranh chấp liên quốc gia. Tuy nhiên, theo người viết, điều này không làm mất đi bản chất nhà nước của hai quốc gia theo tiêu chuẩn của Montevideo.
Thứ hai, phải tính đến luận điểm cho rằng Ngô Đình Diệm, chính quyền Bảo Đại và Hoa Kỳ đã không tôn trọng Hiệp định Geneva và không tuân thủ việc thi hành cuộc tổng tuyển cử 1956 như dự định.
Nhưng nếu cho rằng Hiệp định Geneva giải quyết được vấn đề Việt Nam thì cũng không tôn trọng quyền dân tộc tự quyết (self-determination) của một bộ phận người dân Việt Nam, quy định tại Khoản 2, Điều 1, Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Đặc biệt, bối cảnh pháp lý của hai chính quyền tồn tại song song ở thời điểm này tương đối phức tạp.
Tính chính danh của chính phủ VNDCCH chủ yếu dựa vào cuộc tổng tuyển cử năm 1946. Tính chính danh này càng được tăng cường hơn sau khi vua Bảo Đại chính thức thoái vị và trao lại ấn tín, quốc bảo của hoàng triều Nguyễn cho đại diện chính Phủ VNDCCH Trần Huy Liệu ngày 25/8/1945.
Tuy nhiên, với Hiệp định Sơ bộ Pháp-Việt ngày 6/3/1946, được ký kết giữa ông Jean Sainteny, đại diện chính phủ Cộng hòa Pháp, và ông Hồ Chí Minh cùng ông Vũ Hồng Khanh, đại diện chính phủ VNDCCH; VNDCCH chỉ còn lại phía Bắc Việt Nam (và vẫn thuộc khối Liên hiệp Pháp), miền Nam Việt Nam vẫn thuộc nhà nước Cộng Hòa Pháp với lời hứa hẹn cho một cuộc trưng cầu dân ý – thống nhất với VNDCCH trong tương lai. Ngày 1 tháng 6 cùng năm, người Pháp thành lập Nam Kỳ Quốc đặt thủ phủ tại Sài Gòn.
Trong giai đoạn từ 1946 đến 1949, sự cứng đầu của cựu vương tân Quốc trưởng Bảo Đại đối với các đại biểu Pháp cũng đã giúp Quốc Gia Việt Nam thành lập với cơ sở của Hiệp ước Elysée (8/3/1949). Trải qua nhiều biến cố với cuộc “đảo chính bằng phiếu” của ông Ngô Đình Diệm, chính quyền Quốc gia Việt Nam cũng có nền tảng pháp lý khá tương đồng với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Vì vậy, việc Cộng hòa Pháp tự tiếp tục cho mình toàn quyền sắp đặt ngày tổng tuyển cử với Hiệp định Geneva là can dự vào nội bộ Việt Nam, một việc làm không thỏa đáng, đặc biệt khi hai bên duy nhất chấp nhận ký kết hiệp định chỉ có chính phủ kháng chiến của VNDCCH và nhà nước Cộng hòa Pháp, còn chính phủ Bảo Đại và Hoa Kỳ đều phản đối Hiệp định.

Lời kết

Với tất cả các thông tin nói trên, cân nhắc nền tảng pháp lý tương đồng, năng lực quản lý tương đương, có đầy đủ lý do (theo công pháp quốc tế) để cho rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa là hai thực thể nhà nước hoàn toàn độc lập.
Vậy nên, hành vi dùng vũ lực quân sự để tước đoạt chính quyền, lãnh thổ của một quốc gia khác, theo định nghĩa của Điều 1, Nghị quyết 3314 năm 1974 của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc, là hành vi xâm lược theo công pháp quốc tế./.

Tác giả: NGUYỄN QUỐC TẤN TRUNG
Nguồn:  http://luatkhoa.info/2017/04/1954-1975-

Tài liệu tham khảo:
Toàn văn Hiến chương Liên Hiệp Quốc
Toàn văn Nghị quyết 3314 Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc
Thomas D. Grant; Defining Statehood: The Montevideo Convention and its Discontents (Columbia Journal of Transnational Law, 1999)
James Crawford; The Creation of State of Palestine: Too much too soon?(EJIL, 1990)

A Vietnam War Timeline
Vua Bảo Đại (Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy) – Lịch sử Việt Nam


Vì sao Hoa Kỳ có một chiến hạm mang tên Thành Phố Huế ?

Tuần dương hạm USS Hue City trên đường làm nhiệm vụ 
(ảnh của Navaltoday)

Nước Mỹ hiện nay không còn bị gọi là kẻ thù nữa. Trái lại nước Mỹ hiện nay còn được xem như là một chốn thiên đường, là điểm đến mơ ước của rất nhiều người Việt, thậm chí là nơi hạ cánh an toàn cho những kẻ lắm của nhiều tiền. Theo thống kê của báo chí Mỹ thì hàng năm người VN đã bỏ ra tới hơn 3 tỉ USD (năm 2016) để mua nhà tại Mỹ. Với số du học sinh người VN đang du học tại Mỹ (năm 2016) là 41 ngàn người – đứng đầu khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 3 châu Á, hàng năm người Việt của chúng ta đã đóng góp thêm cho ngân sách của nước Mỹ 1,7 tỉ USD. Vậy thì ai dám nói người Việt chúng ta nghèo. 
Những tầng lớp người Việt nào mới đủ tiền mua nhà tại Mỹ hay cho con du học tại Mỹ thì lại là một câu chuyện khác.

Với bài viết này tác giả chỉ xin kể về một câu chuyện khá kỳ lạ, đó là: Hiện nay trong lực lượng hải quân Hoa Kỳ có một chiến hạm mang tên thành phố Huế của chúng ta.
Mời mọi người cùng tìm hiểu về chiến hạm duy nhất mang tên một trận đánh và địa danh thành phố Huế - Việt Nam, hiện vẫn đang hoạt động trong Hải quân Hoa Kỳ.

Đó là chiếc tuần dương hạm USS Hué City (CG-66) thuộc lớp Ticonderoga, mang tên lửa dẫn đường. Tàu được đặt tên theo một trận đánh ở thành phố Huế (Battle of Hue) năm 1968, nơi mà quân đội Mỹ đối đầu với lực lượng quân giải phóng VN  trong chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Tàu hiện thuộc biên chế của hạm đội 6, đã tham gia nhiều chiến dịch tại Trung Đông, tuần tra ở Địa Trung Hải, Đại Tây Dương và đến cả vùng Biển Baltic.

USS Hué City được khởi đóng vào ngày 16/4/1987, hạ thủy ngày 20/2/1989 tại xưởng đóng tàu của công ty Ingalls Shipbuilding tại bang Florida và chính thức vào biên chế hải quân Mỹ từ ngày 14/9/1991, dưới quyền chỉ huy của thuyền trưởng Thomas Irvin Eubanks.
Tuần dương hạm USS Hué City có chiều dài là 173m, rộng 16,8m và lượng giãn nước lên tới 9.800 tấn. Tàu trang bị hệ thống động cơ tuốc bin khí cực khỏe cho phép nó đạt tốc độ tối đa 60km/h.
Ticonderoga hiện là lớp tàu mặt nước được trang bị vũ khí mạnh nhất của hải quân Mỹ. Tàu được vũ trang 2 cụm 61 ống phóng thẳng đứng Mk 41, mang theo hỗn hợp tên lửa phòng không SM-2/3, tên lửa hành trình BGM-109 Tomahawk và tên lửa chống ngầm RUM-139A VL-ASROC.
Ngoài ra tàu còn được trang bị 8 tên lửa chống hạm RGM-84 Harpoon; 2 pháo hạng nhẹ Mk 45 Mod 2; 2 súng Mk 38; 2-4 súng 12,7 mm; 2 hệ thống phòng thủ tầm cực gần Phalanx Block 1B và 2 cụm 3 ống phóng ngư lôi hạng nhẹ 324 mm Mk 32. Tàu lớp Ticonderoga còn có sonar SQS-53C và bộ xử lý dữ liệu SQR-17.
Ngoài hoạt động quân sự, chiếc tàu cũng tham gia hoạt động cứu trợ ở vùng biển Caribbean, Trung Đông và có mặt trong các hải đội công kích để hỗ trợ cho hàng không mẫu hạm.

Cách đặt tên tàu chiến của Mỹ

Cách đặt tên cho các tàu chiến của Hoa Kỳ không theo một bộ luật cụ thể nào cả mà chỉ căn cứ vào truyền thống của hải quân nước này từ thời giành độc lập khỏi nước Anh cho đến nay.
Quy ước chung từ đầu Thế kỷ 20 là đa số các chiến hạm lớn được đặt tên theo các bang của Hoa Kỳ, như USS Missisippi, USS Colorado, USS Hawaii…
Tàu nhỏ hơn có thể mang tên một quận (USS Essex) hoặc thành phố (USS San Diego)…
Tàu tuần dương (cruiser) thường mang tên các đô thị, còn khu trục hạm – tàu nổi có hỏa lực lớn nhất và vận hành trong mọi thời tiết – mang tên tướng lĩnh hải quân và anh hùng quân đội.

Đặc biệt có chiếc khu trục hạm USS John S. McCain lấy tên của hai thế hệ nhà McCain: đô đốc John S. McCain I, và đô đốc John S. McCain II.
Họ là ông và bố của phi công hải quân John S. McCain III, người bị bắn rơi xuống Hồ Trúc Bạch, Hà Nội khi tham gia một đợt bắn phá Bắc Việt Nam năm 1967.
Bị tù ở Hỏa Lò, ông sau làm Thượng nghị sỹ và ứng viên tổng thống của đảng Cộng hòa Mỹ và có nhiều cử chỉ hòa giải với nước cựu thù.

Từ sau Thế chiến 2, một số khu trục hạm bị đánh đắm trong giao tranh với quân địch ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương được lấy tên đặt lại cho các tàu thế hệ sau.
Tàu nhỏ chống ngầm, hộ tống hạm có thể lấy tên các liệt sỹ của hải quân Mỹ.
Riêng hàng không mẫu hạm thường lấy tên của các tổng tư lệnh tức tổng thống hoặc các chính trị gia cao cấp.
Các chiếc USS John F. Kennedy, USS Ronald Reagan, USS Theodore Roosevelt… đều là hàng không mẫu hạm thuộc hàng lớn nhất thế giới, có thể đi biển hàng chục năm không vào bờ nhờ có động cơ nguyên tử.
Chiếc USS John Stennis là hàng không mẫu hạm mang tên Thượng nghị sỹ John Cornelius Stennis (1901 – 1995), nguyên Chủ tịch Thượng viện và nhiều năm làm Chủ tịch Ủy ban Quân lực của Thượng viện Liên bang.

Việc chọn một địa danh nước ngoài và là tên một trận đánh như tại Huế cho tàu chiến Mỹ không phải là điều thường xảy ra. Mà trận đánh đó phải để lại một dấu ấn cực lớn, thậm chí là một sự thay đổi chiến lược chính trị của chính nước Mỹ.
Trang web của Hải quân Hoa Kỳ nói khá chi tiết về lý do chiếc tuần dương hạm này mang tên USS Hue City (CG-66). Đó là tên một trận đánh của Trung đoàn 1, lính Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ vào dịp Tết Mậu Thân 1968 ở khu vực Đại nội, Huế. Đây là trận đánh để lại nhiều dấu ấn cho các bên.

Một sĩ quan Mỹ, đại uý Thủy quân Lục chiến Myron Harrington, mà ý kiến của anh này được trích dẫn nhiều lần trong một số bài viết trên trang web về trận đánh này, nói: “Để cứu một thành phố phải chăng chúng ta phải phá tan nó đã?”
Câu nói phản ánh trong thực tế tại các đợt giao tranh ở Huế năm 1968, với hỏa lực áp đảo của người Mỹ thì thành phố Huế sau cuộc chiến thật sự chỉ còn là “một đống hoang tàn” như sử sách đã nói nhiều. Về phía người Mỹ họ cũng luôn nhắc tới trận chiến này và cho rằng đó là trận chiến “tàn khốc nhất trong cuộc chiến Việt Nam”.
Trận Huế được đưa vào bộ phim nổi tiếng Full Metal Jacket (Áo giáp sắt, 1987), dựa trên tự truyện của Gustav Hasford.

Trận chiến tại Huế năm 1968 người Mỹ thắng hay thua ?

Khi lực lượng Mỹ được điều từ Đà Nẵng ra tăng cường cho Huế đã đẩy được các đơn vị quân Giải phóng ra khỏi khu nội đô của thành phố và sau đó là toàn thành phố Huế. Tức là người Mỹ đã thắng trận. Nhưng cho tới nay quan điểm nổi trội trong giới sử gia phương Tây đều cho rằng Hoa Kỳ đã thua về chiến lược trong trận chiến này.
Trận Huế - 1968, được coi là “mở màn cho sự kết thúc” ý chí quân sự của Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam. Bởi sau sau trận chiến Mậu Thân - 1968, người Mỹ đã đánh giá lại toàn bộ sự can thiệp về quân sự, chính trị tại VN, với những sách lược hoàn toàn mới.
Giới bình luận quân sự vẫn tiếp tục so sánh Huế với Beirut và Fallujah sau này để nói cách đánh của Hoa Kỳ đôi khi thắng về chiến thuật nhưng lại bị “thất bại về chiến lược” (strategic defeat).
Có vẻ như chỉ những trận đánh rất khốc liệt, khiến cho chính giới Hoa Kỳ sau đó phải thay đổi ý chí chính trị, mới “được” đem ra đặt cho các tàu chiến.

Một câu chuyện tương tự, đó là câu chuyện đặt tên một trận đánh giữa hải quân Mỹ với bộ binh Nhật năm 1944, tại một hòn đảo nhỏ có cái tên Saipan trên biển Thái Bình Dương cho một tàu sân bay hạng nhẹ của hải quân Mỹ đó là tàu USS Saipan.
Sau khi tàu Saipan số một này hết hạn sử dụng, cái tên đó vẫn được đặt lại cho một tàu USS Saipan khác, mới hạ thủy năm 2007 thuộc loại tàu đổ bộ.
Ngoài ra, một cái tên khác nói về trận đánh này là Iwo Jima (tên một thị trấn nhỏ là thủ phủ của hòn đảo này) cũng được đặt cho hai chiến hạm khác là USS Iwo Jima LPH-2 và LHD-7.

Trận Iwo Jima là trận đánh đầu tiên trên lãnh thổ Nhật mà mức độ tàn khốc vượt qua mọi cuộc chiến của quân đội Mỹ tại châu Âu cho đến cùng thời điểm.
Tại hòn đảo nhỏ cách đất liền Nhật Bản hơn 750 km này, năm 1944 hơn 70 nghìn quân Mỹ đã đổ bộ vào để chiếm đảo, nơi có 22 nghìn quân Nhật do Tướng Tadamichi Kuribayashi chỉ huy đang cố thủ. Với lực lượng và hỏa lực áp đảo, quân Mỹ đã phong tỏa hoàn toàn hòn đảo cả đường không lẫn đường biển. Sau khi đã bắn phá tan tành hòn đảo nhỏ này, trước khi đổ bộ phía Mỹ kêu gọi quân Nhật đầu hàng. Trong hoàn cảnh bị bao vây hoàn toàn như vậy, nhưng quân Nhật còn lại vẫn quyết tử, thà chết không đầu hàng.
Hòn đảo nhỏ Saipan, trong đó có cái địa danh Iwo Jima sau đó bị biến thành một cỗ “máy nghiền thịt” (meat grinder). Cuối cùng người Mỹ đã thắng và chiếm được hòn đảo, nhưng con số thương vong thật khủng khiếp – 7.000 quân Mỹ và 21 nghìn quân Nhật bị giết sau 5 tuần giao tranh.

Sau trận chiến này toàn bộ kế hoạch nhằm đánh bại đế quốc Nhật trên khắp châu Á và Thái bỉnh Dương; cũng như kế hoạch đổ bộ vào đất liền Nhật Bản vạch ra trước đó đã được người Mỹ tính toán lại.
Điều này có hệ lụy chính trị sâu rộng cho Nhật Bản và cục diện châu Á sau 1945.

Trở lại câu chuyện về con tàu USS Hue City, có một chi tiết báo chí tiếng Anh nhắc đến là quân nhân Lê Bá Hùng, một người gốc Huế (a Hue native), cũng đã từng làm sỹ quan trên tàu này trước khi được thăng Hạm trưởng tàu USS Lassen
Hiện ông Lê Bá Hùng mang hàm đại tá cao cấp (Commodore) và phụ trách một hải đội của Hoa Kỳ thuộc Hạm đội Thái Bình Dương./.

ĐKT
05.5.2017

Nguồn: BBC, trang navysite và trang web của hải quân Hoa Kỳ ngày 28/04/2017.
--------------------------------------
Một số hình ảnh do các phóng viên chiến trường người Mỹ chụp tại Huế năm 1968





























LỊCH SỬ, SỰ THẬT VÀ SỬ HỌC

"Tứ trụ" của nền sử học hiện đại VN:
(từ trái qua phải: GS Trần Quốc Vượng, GS Hà Văn Tấn, GS Phan Huy Lê và GS Đinh Xuân Lâm.)



Ai ai đều đã bằng câu hết
Nước chẳng còn có Sử Ngư!
Đó là hai câu thơ cuối cùng trong bài thơ cuối cùng của mười bốn bài “Mạn thuật” mà Nguyễn Trãi đã để lại cho chúng ta. Thật là cay đắng, khi mà mọi người bị uốn cong như lưỡi câu, và chẳng còn ai nói lên sự thật nữa, chẳng còn ai như Sử Ngư nữa. Sử Ngư là người chép sử nước Vệ đời Xuân Thu, nổi tiếng về thẳng thắn và trung thực. Khổng Tử đã từng khen: “Trực tai Sử Ngư!” (Sử Ngư thẳng thay!).
Cho đến hôm nay, đọc câu thơ Nguyễn Trãi, chúng ta vẫn như tê tái với nỗi đau của ông. Làm sao có thể sống trong một xã hội mà mọi sự thật đều bị che đậy hay xuyên tạc. Trong những thời kỳ như vậy, người chép sử, nhà sử học, những người có nhiệm vụ nói lên sự thật, không biết bị dằn vặt đến thế nào?
Ngày nay, chúng ta đang sống trong một giai đoạn mà nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật là yêu cầu của nhân dân, của đất nước. Đã đến lúc những người chép sử, những nhà sử học phải tự hỏi rằng: “Sử bút” của mình đã thật nghiêm chưa, đã viết đúng sự thật lịch sử hay chưa?
Lịch sử là khách quan. Sự kiện lịch sử là những sự thật được tồn tại độc lập ngoài ý thức của chúng ta. Nhưng sự nhận thức lịch sử lại là chủ quan. Và người ta chép sử vì những mục đích khác nhau.
Từ thời cổ đại, người ta đã đặt yêu cầu cho việc chép sử là nêu gương cho nhân dân và đem lại bài học cho những nhà cầm quyền. Polibius, nhà sử học Hy Lạp vào thế kỷ II trước công nguyên, đã nhận thấy rằng sử học có tính pagamtikos, tức thực dụng. Trong các vị thần Muses Hy Lạp, thì nữ thần Clio là thần sử học. Nhưng tên Clio là bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là Kleio, nghĩa là ca tụng, biểu dương.
Ở Phương Đông, Khổng Tử viết kinh Xuân Thu, bộ sử lớn của Trung Quốc cổ đại, là cốt để “bao biếm”, tức là khen và chê các hành vi của của các nhân vật lịch sử. Cái mẫu mực sử học thực dụng còn tồn tại rất lâu dài về sau, nhất là ở phương Đông. Ta hãy đọc những dòng của Phạm Công Trứ trong bài tựa sách Đại Việt sử ký tục biên: “Vì sao phải viết quốc sử? Vì sử chủ yếu ghi chép công việc. Có chính trị của một đời tất phải có sử của một đời. Mà sự ghi chép của sử giữ nghị luận rất nghiêm, tô điểm việc trí trị thì sáng tỏ ngang với mặt trời mặt trăng, răn đe kẻ loạn tặc thì ráo riết như sương thu lạnh buốt, người thiện biết thì có thể bắt chước, người ác biết thì có thể tự răn, quan hệ với chính trị không phải là ít. Cho nên mới làm ra quốc sử”.
Một mục đích thực dụng như vậy đặt ra cho sử học tất nhiên đã ngăn cản không ít việc nói lên sự thật lịch sử. Thường thì người ta chỉ chọn chép những sự kiện nào có lợi cho đường lối chính trị, hoặc là làm thay đổi sự kiện cho phù hợp với ý muốn của nhà cầm quyền.
Nhưng ngay trong hàng ngũ các nhà sử học thời cổ, cũng đã có người cho rằng cần làm thế nào để phục vụ đời sống và chính trị không làm hại đến thiên chức nói sự thật của nhà sử học. Chẳng những thế, họ còn cho rằng sử có chép đúng sự thật mới phục vụ tốt cho đời sống và chính trị. Ciceron ở La Mã đã gắn historia magistra vitae (lịch sử chính yếu của cuộc sống) với yêu cầu đạt tới lux veritatis (ánh sáng của sự thật). Trong Deoratore, ông đã viết: “Luật thứ nhất của chép sử là không dám nói cái giả mạo, luật thứ hai là dám nói tất cả những gì là sự thật”.
Còn Lê Quý Đôn của chúng ta, ở đầu tập Đại Việt thông sử, đã dẫn một loạt các câu nói của các nhà sử học đời trước để coi của các nhà sử học đời trước để coi việc chép đúng sự thật như một tôn chỉ của việc soạn sử. Và để giữ được tôn chỉ đó, cuối cùng, ông đã chép lại câu của Yết Hề Tư đời Nguyên: “Việc soạn sử phải lấy việc dùng người làm gốc. Người có văn học mà không biết cách chép sử thì không thể cho dự vào sử quán. Người có văn học, lại kiêm biết cách soạn sử, nhưng bụng dạ bất chính, cũng không được dự”.
Từ thế kỷ XVII, sử học thế giới đạt đến mẫu mực phê phán, đặt yêu cầu đem lại sự thật của quá khứ. Và từ cuối thế kỷ XIX, khi sử học đạt tới các mẫu mực cấu trúc và biện chứng, các hình ảnh của quá khứ mà sử học khôi phục được còn phải được đặt trong cái toàn thể và sự vận động.

Giáo sư Hà Văn Tấn

Từ khi chủ nghĩa duy vật biện chứng và lịch sử mácxít ra đời, khám phá ra cơ chế của sự phát triển xã hội, các nhà sử học được cung cấp một mô hình giải thích lịch sử có tính nhất thể - năng động, kết hợp cả hai mặt cấu trúc và biến đổi. Sử học vươn tới phát hiện quy luật và nhờ đó, sử học không những nhận thức được quá khứ mà còn chuẩn bị cho những khả năng dự báo. Nhưng sử học muốn thực hiện được những chức năng đó, khảo sát con đường đã qua và góp phần nhận thức con đường sắp tới, một điều kiện cơ bản là phải biết sự thật và nói lên sự thật.
Nhưng biết sự thật không dễ, và dám nói lên sự thật nhiều khi càng khó hơn. Với ý của Yết Hề Tư mà Lê Quý Đôn đã dẫn nhưng nói theo ngôn ngữ hiện đại thì như thế này: Muốn viết sử, phải biết phương pháp sử học, và trước hết, phải là người trung thực chứ không phải là tên cơ hội.
Viết sử là một nghề, nói như người Pháp là métier d’historien. Người viết sử phải được luyện rèn tay nghề. Các sách dạy nghề, tức các sách viết về phương pháp sử học, thường nói đến hai bước cơ bản trong công tác sử học: bước thứ nhất là từ sử liệu, khôi phục sự kiện, bước thứ hai là giải thích và đánh giá sự kiện.
Ngay từ bước thứ nhất, đã có những khả năng dẫn nhà sử học xa rời sự thật. Đó là vì sử liệu thiếu, và phổ biến hơn, vì sử liệu không được phê phán nghiêm túc. Người ta chia sử liệu ra làm hai loại: sử liệu trực tiếp và sử liệu gián tiếp.
Sử liệu trực tiếp xuất hiện cùng thời với sự kiện. Chẳng hạn trống đồng Ngọc Lũ, khẩu pháo Điện Biên, hay văn bản Hiệp nghị Paris…là sử liệu trực tiếp.
Còn sử liệu gián tiếp là sử liệu nói đến sự kiện này qua một người thông tin gián tiếp, tức tác giả sử liệu. Loại sử liệu này cần được giám định cẩn thận, vì thông tin nhận được đã qua trung gian người thông tin. Chẳng hạn hồi ký là sử liệu gián tiếp. Ở đây, các sự kiện xảy ra không đồng thời với sử liệu, tức là trước lúc hồi ký được viết. Nhà sử học Liên Xô M.N.Tchernomorski đã viết cả một quyển sách dày, có đầu đề Hồi ký với tư cách là sử liệu lịch sử, để trình bày các phương pháp nghiên cứu nguồn sử liệu gián tiếp này.
Hiện nay, nhiều công trình sử học của chúng ta đã sử dụng những nguồn sử liệu gián tiếp một cách thiếu thận trọng. Sử liệu gián tiếp bao gồm cả những lời kể về sau của những người đã chứng kiến sự kiện. Các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương hay lịch sử hiện đại, lịch sử Đảng thường sử dụng nguồn tài liệu này. Những lời kể như vậy cần được phân tích so sánh với các sử liệu khác, nếu không, dễ dẫn đến tình trạng là cùng một sự kiện, có thể được trình bày rất khác nhau. Tình hình thường xảy ra là nếu người thông tin là người hiện có uy lực chi phối ở địa phương thì lịch sử sẽ được viết theo cách nhìn nhận của người đó.
Đối với các thời kỳ xa xưa, sự sai lầm càng dễ xảy ra, vì sử liệu càng hiếm hơn, khó kiểm tra hơn. Trong nhiều trường hợp để khôi phục sự kiện, nhà sử học phải vận dụng đến sự suy đoán logic, và thậm chí, cả sự tưởng tượng. Nhưng trong trường hợp sự kiện được trình bày mới chỉ là giả thuyết, thì điều đó phải được nói rõ, đừng để người khác tin rằng đó đã là sự thật đích xác. Trong nhiều công trình sử học hiện nay, cái mới chỉ là giả thuyết với cái đã là sự thật, thường bị làm lẫn lộn.
Chẳng hạn, không một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ Nam quốc sơn hà Nam đế cư là của Lý Thường Kiệt. Không có một sử liệu nào cho biết điều đó cả. Sử cũ chỉ chép rằng trong trận chống Tống ở vùng sông Như Nguyệt, một đêm quân sĩ nghe tiếng ngâm bài thơ đó trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát. Có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt đã cho người ngâm thơ. Đi xa hơn, có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ. Nhưng đó chỉ là đoán thôi, làm sao nói chắc được bài thơ đó là của Lý Thường Kiệt. Thế nhưng, cho đến nay, mọi người đều tin rằng đó là sự thật, hay đúng hơn, không ai dám nghi ngờ đó không phải là sự thật.
Ta còn có thể dẫn ra nhiều ví dụ khác về những sự kiện chắc là không thật, thậm chí không thật mà nay nghiễm nhiên là “sự thật”, ngay cả trong các giai đoạn lịch sử gần đây.
Các nhà sử học thường dựa chủ yếu vào nguồn sử liệu viết. Mà nước ta, các văn bản sử liệu thường bị biến chuyển ghê gớm. Đó là chưa kể sự xuất hiện những tài liệu giả. Nếu trình bày sự kiện mà dựa vào sử liệu đã bị biến đổi hay sử liệu giả thì hiển nhiên không tránh khỏi sai lầm.
Chẳng hạn, quyển Binh thư yếu lược hiện có, được coi là của Trần Hưng Đạo, là một quyển sách giả từ đầu chí cuối. Các nhà nghiên cứu ở Viện Hán Nôm vừa làm một việc có ý nghĩa là chứng minh được quyển sách giả mạo đó đã hình thành như thế nào. Thế nhưng khi viết về cuộc kháng chiến chống Nguyên hay về Trần Hưng Đạo, một số người vẫn dùng quyển sách giả này. Thậm chí có lãnh tụ đã trích dẫn sách này trong diễn văn của mình. Đó cũng là lỗi của các nhà sử học, họ đã không thuyết minh đầy đủ khi cho in bản dịch tác phẩm giả mạo này.
Còn các văn bản bị biến đổi, sửa chữa qua các đời thì rất nhiều. Thậm chí cả các văn bản hiện đại. Ngay bức thư của chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các em học sinh mà hiện nay trong các trường phổ thông vẫn học, vẫn trích, cũng đã sai, khác quá nhiều với văn bản đầu tiên còn được cất giữ ở Cục lưu trữ trung ương. Các văn kiện khác cũng vậy. Về điểm này, cần học tập thái độ của Mác và Ăngghen khi cho xuất bản Tuyên ngôn Đảng cộng sản năm 1872, hai ông viết rằng: “Tuyên ngôn là một tài liệu lịch sử mà chúng tôi không có quyền sửa lại”. Các nhà sử học đòi hỏi phải có một thái độ như vậy đối với các văn kiện lịch sử.
Trên đây là chuyện phê phán sử liệu và miêu tả sự kiện. Thực ra sự thật dễ bị che lấp hay xuyên tạc là ở bước thứ hai, giải thích và đánh giá sự kiện. Đó là vì công việc này phụ thuộc nhiều vào mặt chủ quan của nhà sử học như nhận thức, quan điểm và nhân cách.
Các nhà sử học chúng ta thường tự coi là người mácxít nhưng bệnh thiên lệch lại hay dễ mắc. Mà thiên lệch, cường điệu một cách phiến diện một mặt nào đó, lại là đặc trưng của chủ nghĩa duy tâm. Cũng chính vì vậy nhiều sự thật lịch sử đã bị bỏ qua.
Trong một thời gian dài, do một động cơ tốt là phải tập trung tinh lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các nhà viết sử chỉ chú ý đến các trang sử chống ngoại xâm trong lịch sử dân tộc. Không chỉ trong các công trình chuyên luận, mà cả trong các bộ thông sử, cũng chỉ tập trung khai thác truyền thống đánh giặc, giữ nước. Một nhà sử học Liên Xô, khi bình luận một quyển sử Việt Nam do Uỷ ban Khoa học xã hội xuất bản, đã có một nhận xét thú vị là các bản đồ trong sách, trừ một bản đồ hình thế chung, đều là bản đồ các trận đánh. Trong thời gian qua, hàng loạt các vấn đề về kinh tế - xã hội của lịch sử Việt Nam đã không được chú ý đầy đủ.
Cũng là đề cao truyền thống, chúng ta thường chỉ đánh giá một chiều, chỉ nhìn thấy cái hay cái tốt, dường như người ta không chấp nhận có truyền thống xấu. Đến nay, trong công cuộc xây dựng đất nước, chúng ta đang cần đánh giá đúng đắn về con người Việt Nam mà phần lớn là tính cách, khả năng đã được quy định qua lịch sử. Phải phân tích trung thực và khoa học các ưu điểm và nhược điểm của con người Việt Nam, chứ không phải cái gì cũng khen.
Chúng ta đã được đọc cả một quyển sách dày đề cao truyền thống khoa học - kỹ thuật Việt Nam. Tôi nghĩ rằng trong lịch sử, nhân dân Việt Nam cũng đã đạt được một số thành tựu về kỹ thuật. Nhưng đề cao quá đáng truyền thống khoa học kỹ thuật của người Việt Nam xưa thì là một sự tô hồng không thật. Vả lại, đề cao ông nghè Vũ Hữu cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI đã tính đủ số gạch xây tường không thừa thiếu một viên, khi trên thế giới, không phải chỉ ở châu Âu (thời Copernic) mà cả ở A-rập (thời Al Kashi) đã có những công trình toán học cao, thì chỉ là làm một việc lố bịch.
Rồi người ta lại đề cao cả những truyền thống của làng xã cổ truyền, nhấn mạnh tính dân chủ của nó. Không hiểu vì sao các nhà sử học tự coi mình là mácxít lại có thái độ “dân tuý” đến như thế. Ngày nay, khi cái cung cách, cái tâm lý “việc làng” đang khoác áo xã hội chủ nghĩa đi giữa chúng ta, các nhà sử học phải xem xét lại thái độ của mình trong việc đánh giá cao làng xã cổ truyền.
Lịch sử Việt Nam anh hùng thật, vinh quang thật, nhưng trình bày nó lúc nào, chỗ nào cũng tốt đẹp cả, rực sáng cả thì quả là không thật. Nhà sử học không thể chỉ ngâm ngợi những thiên anh hùng ca mà không biết đến những khúc bi ca trong lịch sử.
Cũng thường thiên lệch, khi chúng ta đánh giá các nhân vật lịch sử. Con người là cả một hệ thống những mối liên hệ phức tạp, bị quy định bởi các điều kiện xã hội, tự nhiên và lịch sử. Thiếu một sự đánh giá xuất phát từ chủ nghĩa lịch sử dường như là căn bệnh chung của chúng ta. Một số người đã chê trách các nhân vật lịch sử vì họ không giống ta. Một số lại quá yêu các nhân vật đó, đến chỗ miêu tả tư duy và hành động của họ cứ y như là họ đã được học tập chủ nghĩa Mác - Lênin.
Đã là con người, không phải là ông thánh, thì có lúc đúng, lúc sai. Đó là chuyện thường tình. Nhưng thật là không công bằng khi chỉ vì khuyết điểm của thời kỳ này, ta sổ toẹt hết cả công lao của nhân vật đó, khi ở thời kỳ khác, đóng góp của người đó là rõ ràng, không thể chối cãi. Nhà sử học Mácxít không thể chấp nhận một thái độ như vậy. Tại sao chúng ta không noi gương Lênin trong việc đánh giá nhân vật như Plêkhanốp?
Chúng ta hãy nhớ lời Mác: “Khoa học càng vô tư và không thiên vị thì càng phù hợp với quyền lợi và nguyện vọng của người công nhân”. Một nền sử học muốn tự biểu hiện là mácxít chân chính, chẳng những phải đặt cho mình nhiệm vụ khám phá chân lý của lịch sử, mà còn phải tỏ rõ khả năng đạt được sự thật khách quan.
Cho đến nay, nhiều học giả tư sản vẫn nghi ngờ tính khách quan của sử học. Ngay người bạn của chúng ta là Bertrand Russell cũng nói rằng: “Sử học chỉ là dẫn ra những ngu xuẩn ngày hôm qua để giúp con người chịu đựng được những ngu xuẩn ngày hôm nay”.
Chúng ta phải bác bỏ những luận điểm đó bằng cách chứng minh rằng nền sử học của chúng ta có khả năng đạt được sự thật khách quan, chứ đừng tiếp tục góp thêm chứng cứ cho những luận điểm đó./.

Những người sáng lập nền sử học hiện đại ngày nay.
(Hàng đứng từ trái qua phải: GS Trần Quốc Vượng, GS Hà Văn Tấn, GS Phan Huy Lê và GS Đinh Xuân Lâm và vợ chồng giáo sư Phan Văn Giàu)

  GS. HÀ VĂN TẤN
   
    * Ghi chú:
   - Nguồn:  Tạp chí Tổ quốc, tháng giêng, 1988.
   - In lại trong: Một số vấn đề Lý luận Sử học, Nxb ĐHQGHN, 2007




VIỆT NAM CÓ BỘ SỬ MỚI & CÁCH NHÌN NHẬN LỊCH SỬ MỚI.

Bộ sách Lịch sử mới gồm 15 tập - có giá 5 gần triệu đồng


Ngày 18/8, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam giới thiệu, phát hành bộ Lịch sử Việt Nam bao quát lịch sử nước ta từ khởi thuỷ đến năm 2000 do Viện Sử học Việt Nam biên soạn, gồm 15 tập. Bộ sách được hoàn thành trên cơ sở chương trình nghiên cứu trọng điểm cấp bộ (cấp Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), do Viện Sử học là cơ quan chủ trì.

Bộ sách được tập thể các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, các nhà nghiên cứu lịch sử của Viện Sử học biên soạn. Hơn 30 nhà nghiên cứu sử học mất 9 năm để biên soạn bộ sử 15 tập, dày gần 10.000 trang này. PGS TS Trần Đức Cường, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, chủ tịch Hội khoa học lịch sử Việt Nam, là tổng chủ biên bộ sách. Ông cho biết:
“Khi thành lập Ủy ban khoa học xã hội VN, bây giờ là Viện Hàn lâm Khoa học & Xã hội VN thì GS. VS Nguyễn Khánh Toàn đã đưa ra kế hoạch nghiên cứu và biên soạn các bộ sách là lịch sử VN, lịch sử văn hoá VN, lịch sử văn học VN, lịch sử tư tưởng VN. Đấy cũng là tâm huyết của rất nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu sử học thuộc Viện khoa học xã hội VN. Sau đó, Viện đã chấp thuận cho chúng tôi biên soạn bộ thông sử VN với 15 tập.”

Hơn 30 nhà nghiên cứu sử học đã bỏ thời gian khoảng 9 năm để hoàn thành bộ sử này với hơn 10.000 trang. Đây là bộ thông sử quy mô chưa từng có từ trước đến nay ở VN, bộ sử ghi chép lại toàn bộ lịch sử VN - từ thời khởi thủy cho đến những năm 2000.”. Đây là bộ Thông sử Việt Nam lớn nhất, đồ sộ nhất từ trước đến nay. Bộ sách có giá trị lớn về lý luận, thực tiễn và xã hội. Với nội dung phong phú, toàn diện, nhiều tư liệu mới, có giá trị, bố cục chặt chẽ, được trình bày có hệ thống, Bộ sách Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến năm 2000 đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy, học tập và hiểu biết về lịch sử Việt Nam.

PGS TS Trần Đức Cường, Chủ tịch Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Tổng chủ biên bộ sách.


PGS TS Trần Đức Cường cho biết "Đây là bộ thông sử quy mô chưa từng có từ trước đến nay ở Việt Nam", ông Cường khẳng định và cho biết “ bộ sách tiếp cận đa diện hơn các nhân vật, đưa vào nhiều nội dung mới như đánh giá khách quan công trạng của nhà Mạc, nhà Nguyễn, nói về chiến tranh biên giới Việt - Trung, có cách nhìn nhận mới về các chính thể tại miền Nam trước năm 1975… Tuy nhiên phần nói về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc được dư luận quan tâm nhất – với tên gọi mới là cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam do Trung Quốc phát động.”.

Bộ sách đã có một cách nhìn nhận lịch sử khá mới. Một số sự thật lịch sử lần đầu được thừa nhận; một số vấn đề khá tế nhị cũng lần đầu được đưa vào sách. Nhưng quan trọng nhất là cách đánh giá và nhìn nhận lịch sử trong lần tái bản này được cho là khá cởi mở; không còn chủ quan và phiến diện như các bộ sử xuất bản từ sau năm 1954 cho tới nay.
Tuy nhiên để có được cách nhìn nhận mới này không phải là vấn đề một sớm một chiều; hoặc của riêng giới sử học như một số dư luận và một số báo giới trong mấy ngày nay đã nhìn nhận một cách thiếu suy xét. Mà đó là cả một quá trình, cả một sự chuẩn bị trong một thời gian dài từ cấp cao nhất cho tới các cơ quan chuyên môn mới có được quan điểm mới này. Đây là cả một quá trình đúc kết, so sánh, đánh giá ở cấp cao nhất; sau đó mới cho phép cơ quan chuyên môn công bố cách nhìn nhận lịch sử mới này. 
Đây không phải là quan điểm, hay cách nhìn nhận lịch sử mới của giới sử học, hay của một vị giáo sư, tiến sĩ hay của một nhà nghiên cứu lịch sử nào đó; mà là quan điểm mới của nhà nước. Việc công bố bộ sách lịch sử mới, với cách nhìn nhận lịch sử mới; và việc nó được công bố trong thời điểm nào là cả một sự tính toán vì lợi ích chung. 

  - Phần nội dung thu hút được sự quan tâm và chú ý của dư luận trong mấy ngày qua được viết trong tập 14, từ trang 351 đến 359; về "quan hệ với Trung Quốc và cuộc chiến tranh bảo vệ lãnh thổ của Việt Nam ở biên giới phía Bắc”. Đây là lần đầu tiên một bộ sách giáo khoa (SGK) đề cập chi tiết về chiến tranh biên giới năm 1979, trong đó nêu rõ cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc là cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam do Trung Quốc phát động.
Nội dung tóm lược từ mối quan hệ Việt - Trung sau năm 1975, những căng thẳng dẫn đến cuộc chiến nổ ra sáng 17/2/1979. Bộ sử đã gọi đích danh đó là "một cuộc chiến tranh xâm lược" trên toàn tuyến biên giới từ Lai Châu đến Quảng Ninh. Bộ sử đã nêu rõ lý do, nguyên nhân tại sao giới lãnh đạo Bắc Kinh phát động cuộc xâm lược này. Công bố rõ ràng đầy đủ những số liệu về quy mô cuộc chiến cả hai phía. Thống kê những thiệt hại của quân xâm lược, gồm số quân Trung Quốc, số xe tăng, đại bác bị dân quân Việt Nam tiêu diệt. Những thiệt hại từ phía quân dân ta, các thành phố, thị xã, thị trấn bị quân Trung quốc tàn phá, người dân bị giết...

Tổng chủ biên PGS TS Trần Đức Cường, phát biểu với báo giới tại buổi công bố sách: "Chúng tôi gọi rõ đó là một cuộc chiến tranh xâm lược, cho quân tiến vào sâu trong lãnh thổ nước khác 30 km, 50 km đánh phá, không phải xâm lược thì gọi là gì?", ông nói.
Có một điều nữa, cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc không chỉ gói gọn trong khoảng tháng 2/1979 mà còn kéo dài. Cán bộ chiến sĩ của chúng ta còn phải hy sinh rất nhiều xương máu để đến khoảng năm 1988 thì mới có hòa bình tương đối ở biên giới phía Bắc.” ; cũng được đề cập rõ trong bộ sử ở lần xuất bản này !


Ông Dương Trung Quốc - Tổng thư ký hội khoa học lịch sử VN

Nhà sử học Dương Trung Quốc cho biết đây là một "nội dung quan trọng và cần thiết" và "đã có sự chuẩn bị kĩ từ lâu".
 Ông nhận xét: Các nhà sử học đều cho rằng, né tránh về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Quốc trong SGK là một sai lầm lớn và 'có tội' với lịch sử dân tộc, việc chỉ thẳng Trung Quốc xâm lược Việt Nam là rất cần thiết.

Đề cập đến vấn đề này, ngay trong buổi giới thiệu bộ sách lịch sử này, nhà sử học Bùi Thiết, Thư ký Hội Sử học, nguyên Thư ký Viện Văn hóa thuộc Bộ VH-TT&DL khi được giới báo chí hỏi về quan điểm của mình, ông cho rằng đây là "điều đáng tiếc", và đã thẳng thắn cho biết quan điểm của mình về vấn đề mà một thời được cho là nhạy cảm này:
   ''Làm như thế là không phải với lịch sử. Tôi nói thẳng cái này là âm mưu thâm độc của Trung Quốc từ lâu. Họ muốn Việt Nam không dạy sử, không học sử nữa, hoặc làm lệch lạc nội dung lịch sử đi vì họ sợ sẽ ảnh hướng đến quan hệ với họ. Họ muốn xóa cái đó để ta hòa đồng với Trung Quốc. Gần 30 năm nay họ vẫn âm mưu làm điều đó", nhà sử học Bùi Thiết nhìn nhận.
   Ông cho biết: "Quan điểm của tôi là tất cả lịch sử phải viết lại hết chứ không phải chỉ là lịch sử cuộc chiến xâm lược do Trung Quốc phát động năm 1979 thôi đâu. Bởi vì sao? Bởi vì lịch sử chúng ta thường viết về chính trị, quá nặng nề về chính trị.
Chúng tôi là người viết sử, bản thân tôi cũng đang viết lại lịch sử cả bậc tiểu học, trung học cơ sở. Viết sử như hiện nay là rất không ổn. Không thể để dạy như thế được, dạy như thế là không phù hợp. Bây giờ bộ sách sử mới in ra thì mới "thòi" một ít tư liệu ra thôi, chứ chưa đầy đủ lắm đâu".
Về nguyên nhân chậm trễ khi đưa nội dung này vào sách giáo khoa lịch sử để giảng dạy trong nhà trường, nhà sử học Bùi Thiết cho giải thích: "Có nhiều nguyên nhân lắm. Tôi nói thẳng trong đó có cả nguyên nhân có thể một số người đang muốn giấu cuộc kháng chiến này của dân tộc. Bởi thế mà cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc này của chúng ta chỉ nằm ở phần dạy thêm. Nhưng làm như thế là không phải với lịch sử".
PGS. TS Trần Đức Cường khẳng định, "những người Việt Nam đương nhiên cần biết về sử Việt Nam, nhưng chúng ta cũng cần và muốn thế giới biết về sử của chúng ta. Chúng ta muốn cả thế giới biết và hiểu rõ bản chất cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc".
Cũng đồng với quan điểm này, nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng "Nói thẳng, nói thật là cần thiết. Bởi nếu càng né tránh thì sẽ càng dẫn đến những nhận thức khác biệt nhau, dẫn đến những sai lầm. Và có người sẽ lợi dụng điều này để xuyên tạc thì còn nguy hiểm hơn nhiều lần….Vấn đề là viết như thế nào để cho bạn đọc xem, tôi cho là vẫn cứ phản ánh trung thực thì tốt hơn. Khi nói đúng sự thực thì là chuyện bình thường. Còn trước kia chúng ta không nói đến hoặc né tránh thì đó mới là điều không bình thường.”

Biết rằng lịch sử thì rất dễ bị chi phối bởi không khí chính trị, ngoại giao, nhất là lịch sử đương đại. Vì thế mà lâu nay chúng ta cũng không lạ việc né tránh sự̣ kiện Trung Quốc xâm lược Việt Nam trong thời gian gần đây. Nhưng việc né tránh nói về vấn đề này trong dư luận xã hội, trong tuyên truyền và thậm chí cả trong dạy sử, viết sử, là một vấn đề gây nhiều bức xúc cho dư luận. Nhưng giờ thì trong bộ sử mới đã viết rõ về vấn đề này, chỉ thẳng là Trung Quốc xâm lược Việt Nam. Tôi nghĩ rằng điều này là rất cần thiết trong tình hình hiện nay. Cũng bởi việc không né tránh mà đề cập đến một cách công khai những vấn đề được cho là tế nhị trong lịch sử sẽ giúp cho những người có trách niệm cao nhất của đất nước có được những nhận định đúng, sẽ đưa ra được những đối sách đúng đắn trong hiện tại và tương lai.

  - Trong lần tái bản này một vấn đề khá tế nhị nhưng cũng khá nhức nhối trong thời hậu chiến của lịch sử Việt Nam đương đại, đã được giải quyết. Đó là lần đầu tiên thừa nhận sự tồn tại một cách hợp pháp của chính thể Việt Nam Cộng Hoà, và những con người từng phục vụ cho chính thể đó !

Theo đó, đây là một thực thể đã từng tồn tại hợp pháp ở miền Nam Việt Nam gần 21 năm, Việt Nam Cộng Hoà là nối tiếp của Quốc gia VN. Đây là một thực thể quốc gia đã được 87 nước trên thế giới công nhận, là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực kể cả các tổ chức của Liên Hợp quốc và cũng từng đại diện cho miền Nam trên nhiều diễn dàn quốc tế. Chính thể này là đại diện cho một chính phủ trong hội nghị Giơ - ne - vơ, là một bên trong hòa đàm Pa- ri năm 1973. Thực thể này đã tồn tại có tính liên tục từ trước năm 1954 (từ ngày 7/12/1947) với danh xưng đầu tiên là Nhà nước Quốc gia Việt Nam do quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu và chính phủ do ông Trần Trọng Kim điều hành. Sau khi người Pháp rút khỏi miền Nam năm 1954, đã bàn giao miền Nam VN lại cho nhà nước Quốc gia Việt Nam. 
Đến ngày 26/10/ 1955, Ngô Đình Diệm đã tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý truất phế Bảo Đại để làm quốc trưởng, nền đệ nhất cộng hòa ra đời. Sau đó tổ chức bầu cử tổng thống, mà Ngô Đình Diệm chính là tổng thống đầu tiên, ... sau nhiều biến động chính trị lần lượt rồi đệ nhị Cộng Hòa ra đời và tồn tại cho tới năm 1975.

Theo tôi, việc công nhận chính thể Việt Nam Cộng Hòa cũng không có gì là bất ngờ cả, thực ra đây chỉ là một việc làm chẳng đặng đừng trong tình hình hiện nay. Hay nói đúng hơn đây chỉ là một sự ngộ ra một cách khá muộn màng mà thôi. Vì có thừa nhận nó tồn tại mới có quyền kế thừa những gì nó có, kể cả biển đảo !

Thời gian từ năm 1975 tới nay, khi nhắc đến chính quyền Việt Nam Cộng Hoà, nhiều người vẫn quen gọi là nguỵ quân, nguỵ quyền. Nhưng trong bộ sách mới này, một cách gọi mới, một danh xưng mới được nêu ra trung tính hơn là "quân đội Sài Gòn, chính quyền Sài Gòn". Tức là khi phải thừa nhận chính thể Việt Nam Cộng Hòa là hợp pháp thì cũng phải công nhận những con người từng phục vụ cho chính thể đấy. Và việc gọi họ là "ngụy quân, ngụy quyền" bị bãi bỏ là đương nhiên. Theo ông Tổng chủ biên là "lịch sử cần phải khách quan, viết thế nào để cho mọi người chấp nhận mới là quan trọng".

 - Một điểm mới rất được công luận chú ý và  khá đồng tình là bộ sử đã đánh giá đầy đủ, khách quan trung thực hơn một số triều đại phong kiến Việt Nam, nhìn nhận đúng công lao của nhà Mạc, chúa Nguyễn và các vua nhà Nguyễn.

Thực tế lịch sử cho thấy dù tồn tại không dài nhưng nhà Mạc là một trong những vương triều có đóng góp cho lịch sử Việt Nam. Khi Mạc Đăng Dung soán ngôi nhà Lê thì triều đại này đã không còn trong thời kỳ hưng thịnh như buổi ban đầu nữa. Khủng hoảng kinh tế xã hội rất rõ ràng, để giải quyết vấn đề đó thì Mạc Đăng Dung đã làm cuộc chính biến giành ngôi. Sự thật là các triều đại ra đời, phát triển rồi suy tàn là quy luật lịch sử. Từ thời Đinh, Lý, Trần đã vậy. Ngoài ổn định kinh tế, nhà Mạc còn phát triển về văn hóa, giáo dục, mở nhiều khoa thi, tìm nhân tài cho đất nước.

Câu chuyện của chúa Nguyễn, nhà Nguyễn cũng đã được nhìn nhận khách quan hơn. Các vị vua nhà Nguyễn đã không còn bị lớp hậu sinh gọi là thằng nọ - đứa kia nữa mà công lao của họ đã được ghi nhận một cách chính thức, trên các khía cạnh:
  - Các vị chúa Nguyễn và vua Nguyễn chính là những con người và triều đại có công nhất trong việc mở rộng bờ cõi về phía Nam. Cho người Việt khai phá vùng đất Nam Bộ; hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước mà anh em nhà Tây Sơn đã mở ra nhưng chưa hoàn thiện được; củng cố bộ máy chính quyền từ Bắc đến Nam; đặc biệt là xác định chủ quyền đất nước với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Thời đó, mỗi năm triều đình đều cử đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải đi tuần thú ở các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa bây giờ.
Dưới thời Nguyễn, văn hoá Việt Nam phát triển, nhiều công trình nay được thế giới công nhận di sản UNESCO như cung đình Huế. Trong khu vực Đông Nam Á bấy giờ thì Việt Nam là vương quốc hùng mạnh nhất.
Bên cạnh đó, triều đại này cũng có những sai lầm mà lịch sử lên án. Như việc Nguyễn Ánh cầu cứu 5 vạn quân Xiêm sang xâm lược là một sai lầm hết sức nghiêm trọng. Hay ký với Pháp những hiệp ước bất lợi, dựa dẫm vào Pháp, không chịu canh tân dù thời bấy giờ có nhiều nhân sĩ, trí thức có tư tưởng đổi mới như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện… khiến đất nước bị lạc hậu đi, để rồi rơi vào tay ngoại bang gần một thế kỷ.

PGS TS Trần Đức Cường cũng đã thẳng thắn nhìn nhận là trong lần tái bản này; ban biên soạn đã có một số điều chưa thực hiện được, có thể gây ra nhiều thiệt thòi cho người đọc, gây khó khăn cho những người nghiên cứu sử và dạy sử sau này, đó là :
   - "Chúng tôi chưa có điều kiện tập hợp tất cả giới sử học trong cả nước.
   - Có rất nhiều các tư liệu của lịch sử VN ở Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Nga, Nhật và nhiều nước khác nữa, vì điều kiện chúng tôi cũng chưa tiếp cận được
   - Hiện có rất nhiều tài liệu lịch sử quý giá hiện do các cơ quan an ninh, quân sự, cơ quan Đảng lưu giữ nhưng cho tới nay chưa được giải mật, để công bố cho nhân dân và các nhà nghiên cứu biết. Trong khi, các nước có quy định loại tư liệu nào trong 20 năm, 30 năm, 50 năm thì được bạch hoá, nhưng ở ta thì chưa có luật này.
  - Ngoài ra cũng có khá nhiều các tư liệu quý giá hiện còn nằm rải rác trên khắp cả nước mà những người biên soạn không có điều kiện tiếp xúc được.

 LỜI KẾT:

Lịch sử là khách quan. Sự kiện lịch sử là những sự thật được tồn tại độc lập ngoài ý thức của chúng ta. Nhưng sự nhận thức lịch sử lại là chủ quan. Và người ta chép sử vì những mục đích khác nhau"  (Hà Văn Tấn).
 Câu chuyện độc quyền chân lý, tạo ra nhận thức hay quản lý nhận thức thì thời nào cũng có. Và đối với giới sử học thì điều này chẳng có gì là mới mẽ cả. Cho nên trước yêu cầu của sử học là phải ghi chép lại đúng thực tế lịch sử, phản ánh một cách khách quan với quá khứ, nhận định đúng hiện tại và tương lai là cả một câu chuyện dài !

Hiện nay chúng ta đang có những khó khăn về việc nhận ra đâu là chân giá trị thực của văn hóa, xã hội VN; về hệ giá trị trong mỗi người Việt Nam cần phải hướng tới. Nhưng có một điều mà không phải ai cũng chú ý, đó là không một lĩnh vực xã hội, văn hóa nào có tác động trực tiếp tới công dân ngay từ lúc còn bé nhiều như sử học. Vì chính những bài học từ lịch sử mới có giá trị định hướng nhiều nhất cho mỗi con người trước khi bước vào đời. Những bài học lịch sử học được từ sử sách, qua lời giảng của thầy cô; qua những câu chuyện kể của ông bà, cha mẹ về những tấm gương trung liệt trong bảo vệ tổ quốc, những anh hùng dân tộc, những bậc danh nhân, những gương người tốt việc tốt … trong xã hội, trong gia đình, trong dòng họ với những người thật việc thật mới chính là những bài học có giá trị nhất.

Cho nên khi nói tới sử học là nói về những câu chuyện đã qua một cách chân thật nhất. Những giai đoạn lịch sử oai hùng của dân tộc được chép một cách đầy đủ nhất, nhưng những đau thương mất mát lớn trong lịch sử dân tộc cũng không được phép chép sơ sài. Những anh hùng lịch sử, những con người tốt việc tốt phải được nêu danh lên đầy đủ và chính xác; nhưng cũng không được bỏ qua những con người xấu việc xấu hoặc những sai lầm trong lịch sử.

Trách nhiệm của giới sử học là tổng kết lại, đánh giá những cái gì là giá trị, những gì là ưu điểm thì phát triển nó thành những bài học lịch sử, cho mọi người học hỏi noi theo. Với những con người xấu, những tai họa trong lịch sử, những khiếm khuyết mà những thế hệ trước mắc phải thì sử học cũng phải nói lên để mọi người biết để né tránh, hoặc lấy đó làm bài học để đi tới cái đúng hơn, tốt hơn.
Giáo dục lòng yêu nước thì có điều gì bằng việc lấy truyền thống yêu nước của tổ tiên trải qua hàng nghìn năm lịch sử, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách để chống quân xâm lược, chống các thế lực tàn bạo để có được đất nước ngày hôm nay.

Nhìn chung, trong lần tái bản này giới sử học đã đánh giá lịch sử một cách khách quan hơn, không còn phiến diện như trước đây, nhưng để nhận thức được đầy đủ và sâu sắc thì cả giới sử học nước nhà sẽ còn phải tiếp tục nghiên cứu. Hy vọng sẽ tiếp tục đi sâu hơn, toàn diện hơn về lịch sử Việt Nam.

Bộ sách ra đời còn là cơ hội giúp cho người đọc biết đâu là sự thật lịch sử dân tộc; đâu chỉ là truyền thuyết dân gian. Vì hiện nay có một hiện tượng là có một số người tuy mang danh là đang viết về lịch sử nhưng họ đã không phân biệt được sự thật lịch sử và huyền thoại. Hoặc họ đã cố tình đánh lận khái niệm khi cho rằng truyền thuyết là lịch sử. Thậm chí họ đã lấy những tư liệu dân gian, huyền thoại làm tư liệu lịch sử.
Hy vọng rằng sau khi bộ sách Lịch sử này ra đời, giúp cho người đọc có cơ sở so sánh, đối chiếu để biết đâu là sự thật lịch sử đâu chỉ là truyền thuyết dân gian ./.

ĐKT
19.8.2017

Vì sao người quân tử không tranh cãi với kẻ tiểu nhân?

Không tranh cãi với kẻ tiểu nhân Khổng Tử có một cậu học trò rất thích tranh luận. Một hôm, người học trò này đến thăm Khổng Tử t...